Nicos Poulantzas (tiếng Hy Lạp: Νίκος Πουλαντζάς; 21 tháng 9 năm 1936 – 3 tháng 10 năm 1979) là một nhà triết học chính trị và xã hội học theo chủ nghĩa Mác người Hy Lạp-Pháp. Vào những năm 1970, ông trở thành một nhân vật hàng đầu trong trường phái tư tưởng Mác-xít cấu trúc luận
Ông nổi tiếng nhất với các công trình lý
luận về nhà nước, giai cấp xã hội, chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa độc tài.
Cùng với nhà xã hội học người Anh Ralph Miliband, các tác phẩm của ông được xem
là đã khởi động trở lại việc nghiên cứu nhà nước trong khoa học chính trị và xã
hội học sau một thời gian dài chủ đề này gần như bị bỏ ngỏ. Thành tựu học thuật
của Poulantzas có ảnh hưởng lớn trong việc phát triển một lý thuyết Mác-xít về
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Tuổi
trẻ của Poulantzas ở Hy Lạp và những năm học tập
Nicos
Poulantzas sinh ra ở Athens trong một gia đình có địa vị. Cha ông, Aristides
Poulantzas, là một giáo sư nổi tiếng về phân tích chữ viết pháp y. Poulantzas
thể hiện trí tuệ vượt trội từ nhỏ, theo học trường trung học thực nghiệm
Peiramaticon trực thuộc Đại học Athens. Ông cũng học tại Viện Pháp ngữ địa
phương và thông thạo tiếng Pháp. Năm 1953, ông vào Trường Luật tại Đại học
Athens. Quyết định học luật của ông không phải do mong muốn có một sự nghiệp
luật sư mà vì đó là cách để theo đuổi sở thích về triết học và khoa học xã hội.
Trong những năm tháng sinh viên, Ông có thiện cảm rộng rãi với chủ nghĩa Mác và
tham gia vào chính trị “cánh tả rộng”. Ông thuộc một tổ chức sinh viên liên kết
với Đảng Cộng sản Hy Lạp (KKE) bí mật và tham gia vào Liên minh Dân chủ Cánh tả
(EDA), hoạt động như một mặt trận pháp lý cho KKE. Ông quan tâm chính đến vấn
đề Síp, một lý tưởng dân tộc được đông đảo người dân ủng hộ. Ông bị bắt giữ một
thời gian ngắn vào năm 1955 vì tham gia một cuộc biểu tình về chủ đề này. Sau
khi tốt nghiệp với điểm “xuất sắc” vào năm 1957, ông thực hiện nghĩa vụ quân sự
bắt buộc trong hải quân Hy Lạp, làm việc trong ngành dịch thuật ở Athens và sau
đó ở Crete.
Năm
1960, sau khi được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư (dù chưa từng hành nghề),
Poulantzas rời Hy Lạp sang Tây Đức để học lên cao, ban đầu tại Munich. Tuy
nhiên, chỉ sau chưa đầy một tháng, Ông viết thư cho cha mình rằng dư âm của tư
tưởng Quốc xã ở đó còn quá nặng nề để ông có thể tiếp tục ở lại và quyết định
chuyển sang Paris để theo đuổi việc học. Tại Paris, ông nhanh chóng được nhận
một vị trí trợ giảng (chargé de cours) về triết học pháp luật tại Đại học
Panthéon-Sorbonne. Năm 1961, ông hoàn thành một luận văn sau đại học với đề tài
“Sự phục hưng của luật tự nhiên ở Đức”, rồi tiếp tục luận án tiến sĩ mang tên
“Bản chất sự vật và pháp luật” (Nature des choses et droit) tại Khoa Luật và
Khoa học kinh tế của Đại học Paris, bảo vệ thành công năm 1964. Cũng trong giai
đoạn này, Poulantzas gắn bó sâu với giới trí thức Pháp như Jean-Paul Sartre và
Simone de Beauvoir, đặc biệt là tạp chí Les Temps modernes (Thời đại mới) do
hai người đồng sáng lập. Từ năm 1964, Ông trở thành cộng tác viên thường xuyên
của tạp chí này về các chủ đề luật học, chính trị và triết học. Ông gia nhập
KKE tại Paris khoảng năm 1961 và tiếp tục hoạt động trong EDA cho đến năm 1966.
Về đời sống riêng, năm 1963 ông gặp nữ văn sĩ Annie Leclerc; hai người kết hôn
ngày 6 tháng 12 năm 1966 và có một con gái, Ariane, sinh năm 1970. Sự nghiệp
học thuật của ông cũng tiến triển với một vị trí nghiên cứu tại Trung tâm
Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) từ năm 1966 đến 1972. Cũng từ khoảng
năm 1966, tư tưởng chính trị và lý thuyết của ông bắt đầu rời xa chủ nghĩa Mác
hiện sinh thời trẻ để ngả dần sang trường phái Mácxít cấu trúc luận của Louis
Althusser – bước ngoặt lý thuyết quyết định gắn liền tên tuổi ông với “chủ
nghĩa Mác cấu trúc luận” về sau.
Poulantzas
bắt đầu sự nghiệp giảng dạy với tư cách trợ giảng tại Đại học Sorbonne, rồi từ
tháng 12 năm 1968 chuyển sang giảng dạy xã hội học tại Trung tâm Đại học Thực
nghiệm Vincennes – tiền thân của Đại học Paris VIII sau này. Đây là cơ sở giáo
dục vừa được thành lập ngay sau các sự kiện Tháng Năm 1968 với tôn chỉ mở cửa
cho cả người lao động, không chỉ giới tinh hoa hàn lâm truyền thống. Tại đây,
Ông trở thành một giáo sư được sinh viên rất mến mộ. Theo lời kể của những đồng
nghiệp cùng thời, các buổi giảng của ông thường chật kín hàng trăm sinh viên.
Từ năm 1977 cho đến khi qua đời, song song với công việc giảng dạy, ông còn phụ
trách mảng sách chính trị tại nhà xuất bản Hachette.
Từ
trường phái Mác hiện sinh đến trường Mác cấu trúc luận
Bước
chuyển từ Sartre sang Althusser không đơn thuần là một lựa chọn học thuật cá
nhân mà gắn liền với bối cảnh trí thức Pháp giữa thập niên 1960, khi Althusser
cùng các cộng sự (trong đó có Étienne Balibar) công bố công trình tập thể Đọc
Tư bản (Lire le Capital, 1965). Công trình này chủ trương đọc lại Mác theo
hướng “khoa học”, tách bạch các cấp độ cấu trúc (kinh tế, chính trị, tư tưởng)
khỏi lối diễn giải nhân bản chủ nghĩa và duy sử luận (historicism) mà phái hiện
sinh và một phần chủ nghĩa Mác chính thống vẫn theo đuổi. Poulantzas viết cuốn
sách đầu tay của mình là “Quyền lực chính trị và các giai cấp xã hội” (1968),
trong chính bầu không khí tranh luận đó và tác phẩm này chịu ảnh hưởng rõ rệt
của cách đặt vấn đề của Althusser.
Mạch
nguồn lý thuyết khác có ảnh hưởng tới Poulantzas là chủ nghĩa Mao và tư tưởng
Antonio Gramsci. Giống
nhiều trí thức cánh tả Pháp cùng thế hệ, ở giai đoạn đầu Poulantzas có thiện
cảm với luận điểm của chủ nghĩa Mao về tính đặc thù và tính tự chủ tương đối
của chính trị so với kinh tế. Đây là sự phê phán nhắm thẳng vào “chủ nghĩa kinh
tế” (économisme), tức xu hướng quy giản mọi hiện tượng chính trị, tư tưởng về
các quan hệ kinh tế một cách máy móc, vốn khá phổ biến trong chủ nghĩa Mác
chính thống thời Đệ tam Quốc tế. Song song đó, ông tiếp thu sâu sắc lý thuyết
bá quyền (hegemony) của Gramsci. Khái niệm về sự lãnh đạo chính trị, trí tuệ và
đạo đức của một giai cấp đối với các giai cấp và tầng lớp khác đạt được không
chỉ bằng cưỡng chế mà còn bằng sự đồng thuận. Ảnh hưởng của Gramsci trở nên
ngày càng rõ nét trong các tác phẩm sau này của Poulantzas, đặc biệt qua các
khái niệm khối quyền lực và khối lịch sử mà ông sử dụng và phát triển thêm.
Quyền
lực chính trị và các giai cấp xã hội (1968)
Tác
phẩm lớn đầu tiên của Poulantzas, Quyền lực chính trị và các giai cấp xã hội
(Pouvoir politique et classes sociales, 1968), trình bày một lý thuyết cấu trúc
luận về nhà nước như một thực thể tương đối tự chủ, không chịu sự kiểm soát
trực tiếp của giai cấp tư bản. Thay vào đó nhà nước đóng vai trò là “yếu tố gắn
kết” cho cấu trúc xã hội. Điều đáng chú ý, như nhiều nhà bình luận sau này đã
nhận xét, là bản thân từ “nhà nước” không xuất hiện trong nhan đề cuốn sách, dù
đây chính là đóng góp quan trọng nhất của nó. Poulantzas xuất phát từ câu hỏi
mà nhà lý luận pháp lý Xô-viết Evgeny Pashukanis từng đặt ra từ những năm 1920:
“vì sao để khẳng định sự thống trị chính trị của mình, giai cấp tư sản lại
cần đến một loại hình bộ máy nhà nước rất đặc thù - nhà nước đại diện hiện đại,
nhà nước giai cấp mang tính quốc gia-nhân dân - thay vì thi hành quyền lực một
cách trực tiếp, công khai như các giai cấp thống trị tiền tư bản?” Câu trả
lời của Poulantzas là: “sự tách biệt về thể chế giữa lĩnh vực kinh tế và
lĩnh vực chính trị (đặc trưng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa) vừa
cho phép vừa đòi hỏi một lý thuyết tự trị về chính trị, tách khỏi lý thuyết về
kinh tế”.
Từ đó,
Ông phê phán đồng thời hai lối tiếp cận đối lập nhưng cùng sai lầm về nhà nước
tư bản. Một mặt là quan điểm công cụ luận (instrumentalism), vốn xem nhà nước
chỉ đơn thuần là công cụ bị giai cấp tư sản thao túng trực tiếp thông qua quan
hệ nhân sự, lợi ích cá nhân của giới lãnh đạo chính trị với giới chủ tư bản.
Mặt khác là quan điểm kỹ trị-kinh tế luận (économisme/technicisme), vốn quy
giản nhà nước thành một phản ánh thụ động, tất định của cơ sở hạ tầng kinh tế.
Đối lập với cả hai, Poulantzas lập luận rằng để nhà nước thực sự phục vụ được
lợi ích chung, lâu dài của giai cấp thống trị, nó phải có khả năng đứng trên và
đôi khi đi ngược lại lợi ích cục bộ, trước mắt của từng nhóm tư bản riêng lẻ.
Đó chính là hạt nhân của khái niệm tính tự chủ tương đối của nhà nước (relative
autonomy of the state) mà Ông trình bày một cách có hệ thống nhất qua các
chương “Các đặc trưng cơ bản” và “Tính tự chủ tương đối” của cuốn sách. Vì giới
tư bản, xét như những tác nhân kinh tế, luôn bị phân hoá và cạnh tranh lẫn nhau
thành nhiều phân đoạn khác nhau (tư bản tài chính, công nghiệp, thương
nghiệp...). Nhà nước trở thành không gian thể chế nơi các phân đoạn này, cùng
các giai cấp và tầng lớp thống trị khác, tập hợp lại thành một liên minh chiến
lược lâu dài mà Ông gọi là “khối quyền lực” (bloc au pouvoir). Đồng thời nhà
nước cũng đóng vai trò làm phân rã, mất tổ chức các giai cấp bị trị và tạo ra
sự đồng thuận của quần chúng nhân dân thông qua hình thức dân chủ đại diện dựa
trên quyền công dân cá nhân và chủ quyền quốc gia.
Từ đó,
Ông định nghĩa nhà nước không phải như một “vật” (chose) trung lập đứng ngoài
xã hội, cũng không phải một chủ thể (sujet) có ý chí riêng, mà là một quan hệ
xã hội. Ông cho rằng “sự cô đọng vật chất của mối quan hệ lực lượng giữa các
giai cấp và các phân đoạn giai cấp” được biểu đạt dưới một hình thái thể chế cụ
thể. Cách tiếp cận quan hệ luận này khiến Poulantzas khác biệt với cả chủ nghĩa
Mác truyền thống lẫn công trình gần như cùng thời của nhà xã hội học Anh Ralph
Miliband, tác giả cuốn Nhà nước trong xã hội tư bản (1969). Cuộc tranh luận
Miliband–Poulantzas trên tạp chí New Left Review, khởi phát từ năm 1969 và kéo
dài nhiều năm, đã trở thành một trong những cuộc tranh biện kinh điển và gần
như bắt buộc phải viện dẫn của mọi lý thuyết hiện đại về nhà nước tư bản. Trọng
tâm bất đồng giữa hai ông xoay quanh câu hỏi: “nhà nước tư bản vận hành vì
lợi ích của giai cấp tư sản bằng cơ chế nào? thông qua quan hệ nhân sự, xuất
thân giai cấp và mạng lưới xã hội trực tiếp giữa giới tinh hoa nhà nước với
giới chủ tư bản (như Miliband nhấn mạnh, gần với cách tiếp cận công cụ luận)
hay thông qua chính cấu trúc khách quan của bản thân nhà nước, tức là dù ai nắm
giữ các vị trí quyền lực, logic thể chế của nhà nước tư bản vẫn buộc nó phải
phục vụ tái sản xuất quan hệ tư bản (như Poulantzas chủ trương, từ lập trường
cấu trúc luận”.
Các
hình thái nhà nước đặc biệt: chủ nghĩa phát xít và chế độ độc tài
Nếu Quyền
lực chính trị và các giai cấp xã hội quan tâm đến hình thái “bình thường”
của nhà nước tư bản dân chủ đại nghị ở các nước tư bản phát triển, thì tác phẩm
tiếp theo, Chủ nghĩa phát xít và chế độ độc tài (Fascisme et dictature,
1970), chuyển sang phân tích các hình thái nhà nước ngoại lệ (exceptional state).
Những chế độ nhà nước này nảy sinh từ khủng hoảng sâu sắc của khối quyền lực,
khi phương thức thống trị thông thường qua dân chủ đại nghị và sự đồng thuận
không còn đủ hiệu lực. Poulantzas phân tích sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít
Đức và Ý những năm 1920–1930 không chỉ như một hiện tượng ý thức hệ hay tâm lý
xã hội mà như một hình thái nhà nước tư bản đặc biệt gắn với một liên minh giai
cấp và một chiến lược tái cấu trúc khối quyền lực cụ thể. Song song đó, cuốn
sách còn là một bản phê phán đường lối của Quốc tế Cộng sản III trong giai đoạn
“giai cấp chống giai cấp” (“classe contre classe”) cuối thập niên 1920 đầu 1930
khi Quốc tế Cộng sản coi các đảng dân chủ-xã hội là “phát xít xã hội” và từ
chối liên minh mặt trận thống nhất với họ để chặn đứng chủ nghĩa phát xít.
Theo Poulantzas, chính sự sai lầm chiến lược này của phong trào cộng sản quốc
tế đã góp phần không nhỏ vào thất bại của phong trào công nhân trước Hitler.
Đáng
chú ý, Poulantzas không xem chủ nghĩa phát xít đơn thuần là công cụ máy móc của
tư bản độc quyền. Ông nhấn mạnh rằng phong trào phát xít có một cơ sở xã hội
quần chúng đặc thù nơi tầng lớp tiểu tư sản. Tầng lớp mà cuộc nổi loạn và hệ tư
tưởng của nó, ít nhất ở giai đoạn đầu, được chính các đảng phát xít phản ánh và
huy động. Ông cũng phân biệt rõ giữa hai kiểu nhà nước ngoại lệ: một bên là các
chế độ phát xít “linh hoạt”, có đảng quần chúng và một hệ thống bộ máy tư tưởng
phức hợp, có khả năng huy động và tổ chức xã hội sâu rộng. Bên kia là các chế
độ độc tài quân sự “giòn dễ vỡ” hơn nhiều như tại Nam Âu, vốn thiếu cơ sở quần
chúng và do đó dễ sụp đổ đột ngột từ bên trong khi gặp khủng hoảng.
Chủ đề
nhà nước ngoại lệ được Ông trở lại một lần nữa trong Khủng hoảng của các chế
độ độc tài (La crise des dictatures, bản gốc tiếng Pháp 1975, bản dịch
tiếng Anh 1976), viết về sự sụp đổ gần như đồng thời của ba chế độ độc tài Nam
Âu vào giữa thập niên 1970: chế độ quân sự Hy Lạp (1967–1974, sụp đổ sau thất
bại trong khủng hoảng Síp), chế độ Estado Novo ở Bồ Đào Nha (chấm dứt bằng cuộc
Cách mạng Hoa cẩm chướng tháng 4 năm 1974), và chế độ Francisco Franco ở Tây
Ban Nha (kết thúc thời kỳ hậu Franco từ năm 1975). Đây là công trình mang tính
cá nhân rõ nét nhất trong sự nghiệp học thuật của Poulantzas. Ông là một thành
viên sáng lập và hoạt động tích cực trong uỷ ban chống độc tài của cộng đồng
người Hy Lạp lưu vong tại Paris trong suốt bảy năm cầm quyền của chính quyền
quân sự Hy Lạp. Nhiều nhà nghiên cứu về sau nhận xét rằng cách ông diễn giải
các sự kiện Hy Lạp phần nào
phản ánh việc ông tiếp cận thực tế quê hương mình qua lăng kính trí tuệ và
chính trị Pháp. Sau khi chế độ quân sự Hy Lạp sụp đổ năm 1974, Poulantzas có
trở về quê hương một thời gian, tham gia đời sống chính trị Hy Lạp qua hoạt
động báo chí và có thỉnh giảng tại Đại học Panteion ở Athens, trước khi trở lại
Paris tiếp tục công việc giảng dạy và nghiên cứu chính của mình.
Các
giai cấp trong chủ nghĩa tư bản đương đại (1974)
Trong
công trình Các giai cấp trong chủ nghĩa tư bản đương đại (Les classes
sociales dans le capitalisme aujourd'hui, 1974), Poulantzas chuyển hướng phân
tích sang cấu trúc giai cấp của các xã hội tư bản phát triển hậu chiến. Vấn đề
trung tâm ông đặt ra là cùng với sự bành trướng của khu vực dịch vụ, quản lý,
hành chính và lao động trí óc, ai thuộc về giai cấp công nhân và ai không? Trái
với xu hướng khi đó vốn khá phổ biến trong cả xã hội học phương Tây muốn mở
rộng khái niệm giai cấp công nhân bao trùm gần như toàn bộ những người làm công
ăn lương. Poulantzas giữ một định nghĩa hẹp và nghiêm ngặt hơn nhiều dựa trên
tiêu chí lao động sản xuất trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư. Ông đưa ra khái
niệm “tiểu tư sản mới” (nouvelle petite bourgeoisie) để chỉ một bộ phận lớn
những người lao động làm công ăn lương như nhân viên văn phòng, cán bộ quản lý
cấp trung, kỹ thuật viên, nhân viên thương mại-dịch vụ. Những tầng lớp này tuy
không sở hữu tư liệu sản xuất và về mặt kinh tế thuần tuý có vẻ gần với giai
cấp công nhân, nhưng do vị trí chính trị và tư tưởng đặc thù của họ trong phân
công lao động (thường mang tính giám sát, quản lý, hoặc thuộc lao động trí óc
tách biệt khỏi lao động chân tay) lại có xu hướng thực hành chính trị-tư tưởng
gần với giai cấp tư sản truyền thống hơn là với giai cấp công nhân. Luận điểm
về vị trí giai cấp không chỉ được xác định bởi quan hệ kinh tế thuần tuý mà còn
bởi các quan hệ chính trị và tư tưởng là một trong những đóng góp giàu tính
tranh luận nhất của Poulantzas đồng thời cũng là điểm bị phê phán nhiều nhất.
Nhiều học giả về sau cho rằng cách phân loại này thu hẹp giai cấp công nhân
“thực thụ” xuống còn một thiểu số nhỏ trong xã hội và mang dấu ấn quá rõ của
lối tư duy cấu trúc luận vốn có xu hướng đặt các cấu trúc khách quan lên trên
hành động và ý thức của các chủ thể lịch sử cụ thể.
Ở những
công trình sau này, Poulantzas trình bày một cách hệ thống hơn ba “bình diện”
cấu thành nên quan hệ sản xuất mà từ đó vị trí giai cấp được xác lập: bình diện
kinh tế (phân biệt giữa sở hữu tức quyền kiểm soát kinh tế thực sự đối với tư
liệu sản xuất và chiếm hữu tức quyền kiểm soát trực tiếp quá trình lao động);
bình diện chính trị (các quan hệ giám sát và phục tùng ngay trong quá trình sản
xuất, cái mà Ông gọi là “chế độ chuyên chế trong nhà máy”) và bình diện tư
tưởng (ranh giới phân chia giữa lao động trí óc và lao động chân tay). Chính
khung phân tích ba bình diện này cho phép Ông tách bạch giai cấp công nhân,
những người trực tiếp bị bóc lột về kinh tế, bị giám sát về chính trị và bị xếp
vào phía lao động chân tay trong hệ tư tưởng thống trị, với “tiểu tư sản mới”.
Tiểu tư sản mới dù về hình thức cũng là người làm công ăn lương nhưng lại đảm
nhận các chức năng giám sát, quản lý hoặc lao động trí óc, tức đứng ở phía đối
lập trên hai bình diện chính trị và tư tưởng.
Nguyễn Hoài Sơn – Viện Xã hội học và Tâm lý học
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Poulantzas, Nicos. Pouvoir politique et classes sociales.
Paris: Maspero, 1968. (Bản dịch tiếng Anh: Political Power and Social Classes,
biên tập bởi Timothy O’Hagan. London: NLB/Sheed and Ward, 1973.)
2. Poulantzas, Nicos. Fascisme et dictature. Paris: Maspero,
1970. (Bản dịch tiếng Anh: Fascism and Dictatorship: The Third International
and the Problem of Fascism, dịch bởi Judith White. London: NLB, 1974.)
3. Poulantzas, Nicos. Les classes sociales dans le
capitalisme aujourd’hui. Paris: Seuil, 1974. (Bản dịch tiếng Anh: Classes in
Contemporary Capitalism, dịch bởi David Fernbach. London: NLB, 1975.)
4. Poulantzas, Nicos. La crise des dictatures: Portugal,
Grèce, Espagne. Paris: Maspero, 1975. (Bản dịch tiếng Anh: The Crisis of the
Dictatorships: Portugal, Greece, Spain, dịch bởi David Fernbach. London: NLB,
1976.)
5. Poulantzas, Nicos. L’État, le pouvoir, le socialisme.
Paris: PUF, 1978. (Bản dịch tiếng Anh: State, Power, Socialism, dịch bởi
Patrick Camiller, giới thiệu của Stuart Hall. London: NLB, 1978.)
6. Poulantzas, Nicos. “The Problem of the Capitalist State.”
New Left Review, số 58 (11–12/1969): 67–78.
7. Poulantzas, Nicos. “The Capitalist State: A Reply to
Miliband and Laclau.” New Left Review, số 95 (1–2/1976): 63–83.
8. Miliband, Ralph. The State in Capitalist Society. London:
Weidenfeld & Nicolson, 1969.
9. Miliband, Ralph. “The Capitalist State: Reply to N.
Poulantzas.” New Left Review, số 59 (1–2/1970).
10. Miliband, Ralph. “Poulantzas and the Capitalist State.”
New Left Review, số 82 (11–12/1973): 83–92.
11. Hall, Stuart. “Nicos Poulantzas: ‘State, Power,
Socialism’.” New Left Review, số I/119 (1–2/1980): 60–69.
12. Jessop, Bob. Nicos Poulantzas: Marxist Theory and
Political Strategy. London: Macmillan, 1985.
13. Martin, James (chủ biên). The Poulantzas Reader:
Marxism, Law and the State. London: Verso, 2008.
14. “Nicos Poulantzas.” Wikipedia, Wikimedia
Foundation. Truy cập tháng 9/2026
R. Miliband, N.
Poulantzas, “The Problem of the Capitalist State”, NLR 58 (1969); R. Miliband,
“The Capitalist State: Reply to N. Poulantzas”, NLR 59 (1970); R. Miliband,
“Poulantzas and the Capitalist State”, NLR 82 (1973); N. Poulantzas, “The
Capitalist State: A Reply to Miliband and Laclau”, NLR 95 (1976).