Xã hội học Mác xít từ thập niên 1930: Nicos Poulantzas (Bài 1)
Lượt xem: 29
Nicos Poulantzas (tiếng Hy Lạp: Νίκος Πουλαντζάς; 21 tháng 9 năm 1936 – 3 tháng 10 năm 1979) là một nhà triết học chính trị và xã hội học theo chủ nghĩa Mác người Hy Lạp-Pháp. Vào những năm 1970, ông trở thành một nhân vật hàng đầu trong trường phái tư tưởng Mác-xít cấu trúc luận

Ông nổi tiếng nhất với các công trình lý luận về nhà nước, giai cấp xã hội, chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa độc tài[1]. Cùng với nhà xã hội học người Anh Ralph Miliband, các tác phẩm của ông được xem là đã khởi động trở lại việc nghiên cứu nhà nước trong khoa học chính trị và xã hội học sau một thời gian dài chủ đề này gần như bị bỏ ngỏ. Thành tựu học thuật của Poulantzas có ảnh hưởng lớn trong việc phát triển một lý thuyết Mác-xít về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

          Tuổi trẻ của Poulantzas ở Hy Lạp và những năm học tập

          Nicos Poulantzas sinh ra ở Athens trong một gia đình có địa vị. Cha ông, Aristides Poulantzas, là một giáo sư nổi tiếng về phân tích chữ viết pháp y. Poulantzas thể hiện trí tuệ vượt trội từ nhỏ, theo học trường trung học thực nghiệm Peiramaticon trực thuộc Đại học Athens. Ông cũng học tại Viện Pháp ngữ địa phương và thông thạo tiếng Pháp. Năm 1953, ông vào Trường Luật tại Đại học Athens. Quyết định học luật của ông không phải do mong muốn có một sự nghiệp luật sư mà vì đó là cách để theo đuổi sở thích về triết học và khoa học xã hội. Trong những năm tháng sinh viên, Ông có thiện cảm rộng rãi với chủ nghĩa Mác và tham gia vào chính trị “cánh tả rộng”. Ông thuộc một tổ chức sinh viên liên kết với Đảng Cộng sản Hy Lạp (KKE) bí mật và tham gia vào Liên minh Dân chủ Cánh tả (EDA), hoạt động như một mặt trận pháp lý cho KKE. Ông quan tâm chính đến vấn đề Síp, một lý tưởng dân tộc được đông đảo người dân ủng hộ. Ông bị bắt giữ một thời gian ngắn vào năm 1955 vì tham gia một cuộc biểu tình về chủ đề này. Sau khi tốt nghiệp với điểm “xuất sắc” vào năm 1957, ông thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc trong hải quân Hy Lạp, làm việc trong ngành dịch thuật ở Athens và sau đó ở Crete.

          Năm 1960, sau khi được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư (dù chưa từng hành nghề), Poulantzas rời Hy Lạp sang Tây Đức để học lên cao, ban đầu tại Munich. Tuy nhiên, chỉ sau chưa đầy một tháng, Ông viết thư cho cha mình rằng dư âm của tư tưởng Quốc xã ở đó còn quá nặng nề để ông có thể tiếp tục ở lại và quyết định chuyển sang Paris để theo đuổi việc học. Tại Paris, ông nhanh chóng được nhận một vị trí trợ giảng (chargé de cours) về triết học pháp luật tại Đại học Panthéon-Sorbonne. Năm 1961, ông hoàn thành một luận văn sau đại học với đề tài “Sự phục hưng của luật tự nhiên ở Đức”, rồi tiếp tục luận án tiến sĩ mang tên “Bản chất sự vật và pháp luật” (Nature des choses et droit) tại Khoa Luật và Khoa học kinh tế của Đại học Paris, bảo vệ thành công năm 1964. Cũng trong giai đoạn này, Poulantzas gắn bó sâu với giới trí thức Pháp như Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir, đặc biệt là tạp chí Les Temps modernes (Thời đại mới) do hai người đồng sáng lập. Từ năm 1964, Ông trở thành cộng tác viên thường xuyên của tạp chí này về các chủ đề luật học, chính trị và triết học. Ông gia nhập KKE tại Paris khoảng năm 1961 và tiếp tục hoạt động trong EDA cho đến năm 1966. Về đời sống riêng, năm 1963 ông gặp nữ văn sĩ Annie Leclerc; hai người kết hôn ngày 6 tháng 12 năm 1966 và có một con gái, Ariane, sinh năm 1970. Sự nghiệp học thuật của ông cũng tiến triển với một vị trí nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS) từ năm 1966 đến 1972. Cũng từ khoảng năm 1966, tư tưởng chính trị và lý thuyết của ông bắt đầu rời xa chủ nghĩa Mác hiện sinh thời trẻ để ngả dần sang trường phái Mácxít cấu trúc luận của Louis Althusser – bước ngoặt lý thuyết quyết định gắn liền tên tuổi ông với “chủ nghĩa Mác cấu trúc luận” về sau.

          Poulantzas bắt đầu sự nghiệp giảng dạy với tư cách trợ giảng tại Đại học Sorbonne, rồi từ tháng 12 năm 1968 chuyển sang giảng dạy xã hội học tại Trung tâm Đại học Thực nghiệm Vincennes – tiền thân của Đại học Paris VIII sau này. Đây là cơ sở giáo dục vừa được thành lập ngay sau các sự kiện Tháng Năm 1968 với tôn chỉ mở cửa cho cả người lao động, không chỉ giới tinh hoa hàn lâm truyền thống. Tại đây, Ông trở thành một giáo sư được sinh viên rất mến mộ. Theo lời kể của những đồng nghiệp cùng thời, các buổi giảng của ông thường chật kín hàng trăm sinh viên. Từ năm 1977 cho đến khi qua đời, song song với công việc giảng dạy, ông còn phụ trách mảng sách chính trị tại nhà xuất bản Hachette.

          Từ trường phái Mác hiện sinh đến trường Mác cấu trúc luận

          Bước chuyển từ Sartre sang Althusser không đơn thuần là một lựa chọn học thuật cá nhân mà gắn liền với bối cảnh trí thức Pháp giữa thập niên 1960, khi Althusser cùng các cộng sự (trong đó có Étienne Balibar) công bố công trình tập thể Đọc Tư bản (Lire le Capital, 1965). Công trình này chủ trương đọc lại Mác theo hướng “khoa học”, tách bạch các cấp độ cấu trúc (kinh tế, chính trị, tư tưởng) khỏi lối diễn giải nhân bản chủ nghĩa và duy sử luận (historicism) mà phái hiện sinh và một phần chủ nghĩa Mác chính thống vẫn theo đuổi. Poulantzas viết cuốn sách đầu tay của mình là “Quyền lực chính trị và các giai cấp xã hội” (1968), trong chính bầu không khí tranh luận đó và tác phẩm này chịu ảnh hưởng rõ rệt của cách đặt vấn đề của Althusser.

          Mạch nguồn lý thuyết khác có ảnh hưởng tới Poulantzas là chủ nghĩa Mao và tư tưởng Antonio Gramsci[2]. Giống nhiều trí thức cánh tả Pháp cùng thế hệ, ở giai đoạn đầu Poulantzas có thiện cảm với luận điểm của chủ nghĩa Mao về tính đặc thù và tính tự chủ tương đối của chính trị so với kinh tế. Đây là sự phê phán nhắm thẳng vào “chủ nghĩa kinh tế” (économisme), tức xu hướng quy giản mọi hiện tượng chính trị, tư tưởng về các quan hệ kinh tế một cách máy móc, vốn khá phổ biến trong chủ nghĩa Mác chính thống thời Đệ tam Quốc tế. Song song đó, ông tiếp thu sâu sắc lý thuyết bá quyền (hegemony) của Gramsci. Khái niệm về sự lãnh đạo chính trị, trí tuệ và đạo đức của một giai cấp đối với các giai cấp và tầng lớp khác đạt được không chỉ bằng cưỡng chế mà còn bằng sự đồng thuận. Ảnh hưởng của Gramsci trở nên ngày càng rõ nét trong các tác phẩm sau này của Poulantzas, đặc biệt qua các khái niệm khối quyền lực và khối lịch sử mà ông sử dụng và phát triển thêm.

          Quyền lực chính trị và các giai cấp xã hội (1968)

          Tác phẩm lớn đầu tiên của Poulantzas, Quyền lực chính trị và các giai cấp xã hội (Pouvoir politique et classes sociales, 1968), trình bày một lý thuyết cấu trúc luận về nhà nước như một thực thể tương đối tự chủ, không chịu sự kiểm soát trực tiếp của giai cấp tư bản. Thay vào đó nhà nước đóng vai trò là “yếu tố gắn kết” cho cấu trúc xã hội. Điều đáng chú ý, như nhiều nhà bình luận sau này đã nhận xét, là bản thân từ “nhà nước” không xuất hiện trong nhan đề cuốn sách, dù đây chính là đóng góp quan trọng nhất của nó. Poulantzas xuất phát từ câu hỏi mà nhà lý luận pháp lý Xô-viết Evgeny Pashukanis từng đặt ra từ những năm 1920: “vì sao để khẳng định sự thống trị chính trị của mình, giai cấp tư sản lại cần đến một loại hình bộ máy nhà nước rất đặc thù - nhà nước đại diện hiện đại, nhà nước giai cấp mang tính quốc gia-nhân dân - thay vì thi hành quyền lực một cách trực tiếp, công khai như các giai cấp thống trị tiền tư bản?” Câu trả lời của Poulantzas là: “sự tách biệt về thể chế giữa lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực chính trị (đặc trưng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa) vừa cho phép vừa đòi hỏi một lý thuyết tự trị về chính trị, tách khỏi lý thuyết về kinh tế[3]”.

          Từ đó, Ông phê phán đồng thời hai lối tiếp cận đối lập nhưng cùng sai lầm về nhà nước tư bản. Một mặt là quan điểm công cụ luận (instrumentalism), vốn xem nhà nước chỉ đơn thuần là công cụ bị giai cấp tư sản thao túng trực tiếp thông qua quan hệ nhân sự, lợi ích cá nhân của giới lãnh đạo chính trị với giới chủ tư bản. Mặt khác là quan điểm kỹ trị-kinh tế luận (économisme/technicisme), vốn quy giản nhà nước thành một phản ánh thụ động, tất định của cơ sở hạ tầng kinh tế. Đối lập với cả hai, Poulantzas lập luận rằng để nhà nước thực sự phục vụ được lợi ích chung, lâu dài của giai cấp thống trị, nó phải có khả năng đứng trên và đôi khi đi ngược lại lợi ích cục bộ, trước mắt của từng nhóm tư bản riêng lẻ[4]. Đó chính là hạt nhân của khái niệm tính tự chủ tương đối của nhà nước (relative autonomy of the state) mà Ông trình bày một cách có hệ thống nhất qua các chương “Các đặc trưng cơ bản” và “Tính tự chủ tương đối” của cuốn sách. Vì giới tư bản, xét như những tác nhân kinh tế, luôn bị phân hoá và cạnh tranh lẫn nhau thành nhiều phân đoạn khác nhau (tư bản tài chính, công nghiệp, thương nghiệp...). Nhà nước trở thành không gian thể chế nơi các phân đoạn này, cùng các giai cấp và tầng lớp thống trị khác, tập hợp lại thành một liên minh chiến lược lâu dài mà Ông gọi là “khối quyền lực” (bloc au pouvoir). Đồng thời nhà nước cũng đóng vai trò làm phân rã, mất tổ chức các giai cấp bị trị và tạo ra sự đồng thuận của quần chúng nhân dân thông qua hình thức dân chủ đại diện dựa trên quyền công dân cá nhân và chủ quyền quốc gia.

          Từ đó, Ông định nghĩa nhà nước không phải như một “vật” (chose) trung lập đứng ngoài xã hội, cũng không phải một chủ thể (sujet) có ý chí riêng, mà là một quan hệ xã hội. Ông cho rằng “sự cô đọng vật chất của mối quan hệ lực lượng giữa các giai cấp và các phân đoạn giai cấp” được biểu đạt dưới một hình thái thể chế cụ thể. Cách tiếp cận quan hệ luận này khiến Poulantzas khác biệt với cả chủ nghĩa Mác truyền thống lẫn công trình gần như cùng thời của nhà xã hội học Anh Ralph Miliband, tác giả cuốn Nhà nước trong xã hội tư bản (1969). Cuộc tranh luận Miliband–Poulantzas trên tạp chí New Left Review, khởi phát từ năm 1969 và kéo dài nhiều năm, đã trở thành một trong những cuộc tranh biện kinh điển và gần như bắt buộc phải viện dẫn của mọi lý thuyết hiện đại về nhà nước tư bản. Trọng tâm bất đồng giữa hai ông xoay quanh câu hỏi: “nhà nước tư bản vận hành vì lợi ích của giai cấp tư sản bằng cơ chế nào? thông qua quan hệ nhân sự, xuất thân giai cấp và mạng lưới xã hội trực tiếp giữa giới tinh hoa nhà nước với giới chủ tư bản (như Miliband nhấn mạnh, gần với cách tiếp cận công cụ luận) hay thông qua chính cấu trúc khách quan của bản thân nhà nước, tức là dù ai nắm giữ các vị trí quyền lực, logic thể chế của nhà nước tư bản vẫn buộc nó phải phục vụ tái sản xuất quan hệ tư bản (như Poulantzas chủ trương, từ lập trường cấu trúc luận”[5].

          Các hình thái nhà nước đặc biệt: chủ nghĩa phát xít và chế độ độc tài

          Nếu Quyền lực chính trị và các giai cấp xã hội quan tâm đến hình thái “bình thường” của nhà nước tư bản dân chủ đại nghị ở các nước tư bản phát triển, thì tác phẩm tiếp theo, Chủ nghĩa phát xít và chế độ độc tài (Fascisme et dictature, 1970), chuyển sang phân tích các hình thái nhà nước ngoại lệ (exceptional state)[6]. Những chế độ nhà nước này nảy sinh từ khủng hoảng sâu sắc của khối quyền lực, khi phương thức thống trị thông thường qua dân chủ đại nghị và sự đồng thuận không còn đủ hiệu lực. Poulantzas phân tích sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít Đức và Ý những năm 1920–1930 không chỉ như một hiện tượng ý thức hệ hay tâm lý xã hội mà như một hình thái nhà nước tư bản đặc biệt gắn với một liên minh giai cấp và một chiến lược tái cấu trúc khối quyền lực cụ thể. Song song đó, cuốn sách còn là một bản phê phán đường lối của Quốc tế Cộng sản III trong giai đoạn “giai cấp chống giai cấp” (“classe contre classe”) cuối thập niên 1920 đầu 1930 khi Quốc tế Cộng sản coi các đảng dân chủ-xã hội là “phát xít xã hội” và từ chối liên minh mặt trận thống nhất với họ để chặn đứng chủ nghĩa phát xít[7]. Theo Poulantzas, chính sự sai lầm chiến lược này của phong trào cộng sản quốc tế đã góp phần không nhỏ vào thất bại của phong trào công nhân trước Hitler.

          Đáng chú ý, Poulantzas không xem chủ nghĩa phát xít đơn thuần là công cụ máy móc của tư bản độc quyền. Ông nhấn mạnh rằng phong trào phát xít có một cơ sở xã hội quần chúng đặc thù nơi tầng lớp tiểu tư sản. Tầng lớp mà cuộc nổi loạn và hệ tư tưởng của nó, ít nhất ở giai đoạn đầu, được chính các đảng phát xít phản ánh và huy động. Ông cũng phân biệt rõ giữa hai kiểu nhà nước ngoại lệ: một bên là các chế độ phát xít “linh hoạt”, có đảng quần chúng và một hệ thống bộ máy tư tưởng phức hợp, có khả năng huy động và tổ chức xã hội sâu rộng. Bên kia là các chế độ độc tài quân sự “giòn dễ vỡ” hơn nhiều như tại Nam Âu, vốn thiếu cơ sở quần chúng và do đó dễ sụp đổ đột ngột từ bên trong khi gặp khủng hoảng.

          Chủ đề nhà nước ngoại lệ được Ông trở lại một lần nữa trong Khủng hoảng của các chế độ độc tài (La crise des dictatures, bản gốc tiếng Pháp 1975, bản dịch tiếng Anh 1976), viết về sự sụp đổ gần như đồng thời của ba chế độ độc tài Nam Âu vào giữa thập niên 1970: chế độ quân sự Hy Lạp (1967–1974, sụp đổ sau thất bại trong khủng hoảng Síp), chế độ Estado Novo ở Bồ Đào Nha (chấm dứt bằng cuộc Cách mạng Hoa cẩm chướng tháng 4 năm 1974), và chế độ Francisco Franco ở Tây Ban Nha (kết thúc thời kỳ hậu Franco từ năm 1975). Đây là công trình mang tính cá nhân rõ nét nhất trong sự nghiệp học thuật của Poulantzas. Ông là một thành viên sáng lập và hoạt động tích cực trong uỷ ban chống độc tài của cộng đồng người Hy Lạp lưu vong tại Paris trong suốt bảy năm cầm quyền của chính quyền quân sự Hy Lạp. Nhiều nhà nghiên cứu về sau nhận xét rằng cách ông diễn giải các sự kiện Hy Lạp[8] phần nào phản ánh việc ông tiếp cận thực tế quê hương mình qua lăng kính trí tuệ và chính trị Pháp. Sau khi chế độ quân sự Hy Lạp sụp đổ năm 1974, Poulantzas có trở về quê hương một thời gian, tham gia đời sống chính trị Hy Lạp qua hoạt động báo chí và có thỉnh giảng tại Đại học Panteion ở Athens, trước khi trở lại Paris tiếp tục công việc giảng dạy và nghiên cứu chính của mình.

          Các giai cấp trong chủ nghĩa tư bản đương đại (1974)

          Trong công trình Các giai cấp trong chủ nghĩa tư bản đương đại (Les classes sociales dans le capitalisme aujourd'hui, 1974), Poulantzas chuyển hướng phân tích sang cấu trúc giai cấp của các xã hội tư bản phát triển hậu chiến. Vấn đề trung tâm ông đặt ra là cùng với sự bành trướng của khu vực dịch vụ, quản lý, hành chính và lao động trí óc, ai thuộc về giai cấp công nhân và ai không? Trái với xu hướng khi đó vốn khá phổ biến trong cả xã hội học phương Tây muốn mở rộng khái niệm giai cấp công nhân bao trùm gần như toàn bộ những người làm công ăn lương. Poulantzas giữ một định nghĩa hẹp và nghiêm ngặt hơn nhiều dựa trên tiêu chí lao động sản xuất trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư. Ông đưa ra khái niệm “tiểu tư sản mới” (nouvelle petite bourgeoisie) để chỉ một bộ phận lớn những người lao động làm công ăn lương như nhân viên văn phòng, cán bộ quản lý cấp trung, kỹ thuật viên, nhân viên thương mại-dịch vụ. Những tầng lớp này tuy không sở hữu tư liệu sản xuất và về mặt kinh tế thuần tuý có vẻ gần với giai cấp công nhân, nhưng do vị trí chính trị và tư tưởng đặc thù của họ trong phân công lao động (thường mang tính giám sát, quản lý, hoặc thuộc lao động trí óc tách biệt khỏi lao động chân tay) lại có xu hướng thực hành chính trị-tư tưởng gần với giai cấp tư sản truyền thống hơn là với giai cấp công nhân. Luận điểm về vị trí giai cấp không chỉ được xác định bởi quan hệ kinh tế thuần tuý mà còn bởi các quan hệ chính trị và tư tưởng là một trong những đóng góp giàu tính tranh luận nhất của Poulantzas đồng thời cũng là điểm bị phê phán nhiều nhất. Nhiều học giả về sau cho rằng cách phân loại này thu hẹp giai cấp công nhân “thực thụ” xuống còn một thiểu số nhỏ trong xã hội và mang dấu ấn quá rõ của lối tư duy cấu trúc luận vốn có xu hướng đặt các cấu trúc khách quan lên trên hành động và ý thức của các chủ thể lịch sử cụ thể.

          Ở những công trình sau này, Poulantzas trình bày một cách hệ thống hơn ba “bình diện” cấu thành nên quan hệ sản xuất mà từ đó vị trí giai cấp được xác lập: bình diện kinh tế (phân biệt giữa sở hữu tức quyền kiểm soát kinh tế thực sự đối với tư liệu sản xuất và chiếm hữu tức quyền kiểm soát trực tiếp quá trình lao động); bình diện chính trị (các quan hệ giám sát và phục tùng ngay trong quá trình sản xuất, cái mà Ông gọi là “chế độ chuyên chế trong nhà máy”) và bình diện tư tưởng (ranh giới phân chia giữa lao động trí óc và lao động chân tay). Chính khung phân tích ba bình diện này cho phép Ông tách bạch giai cấp công nhân, những người trực tiếp bị bóc lột về kinh tế, bị giám sát về chính trị và bị xếp vào phía lao động chân tay trong hệ tư tưởng thống trị, với “tiểu tư sản mới”. Tiểu tư sản mới dù về hình thức cũng là người làm công ăn lương nhưng lại đảm nhận các chức năng giám sát, quản lý hoặc lao động trí óc, tức đứng ở phía đối lập trên hai bình diện chính trị và tư tưởng.

Nguyễn Hoài Sơn – Viện Xã hội học và Tâm lý học

 

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Poulantzas, Nicos. Pouvoir politique et classes sociales. Paris: Maspero, 1968. (Bản dịch tiếng Anh: Political Power and Social Classes, biên tập bởi Timothy O’Hagan. London: NLB/Sheed and Ward, 1973.)

2. Poulantzas, Nicos. Fascisme et dictature. Paris: Maspero, 1970. (Bản dịch tiếng Anh: Fascism and Dictatorship: The Third International and the Problem of Fascism, dịch bởi Judith White. London: NLB, 1974.)

3. Poulantzas, Nicos. Les classes sociales dans le capitalisme aujourd’hui. Paris: Seuil, 1974. (Bản dịch tiếng Anh: Classes in Contemporary Capitalism, dịch bởi David Fernbach. London: NLB, 1975.)

4. Poulantzas, Nicos. La crise des dictatures: Portugal, Grèce, Espagne. Paris: Maspero, 1975. (Bản dịch tiếng Anh: The Crisis of the Dictatorships: Portugal, Greece, Spain, dịch bởi David Fernbach. London: NLB, 1976.)

5. Poulantzas, Nicos. L’État, le pouvoir, le socialisme. Paris: PUF, 1978. (Bản dịch tiếng Anh: State, Power, Socialism, dịch bởi Patrick Camiller, giới thiệu của Stuart Hall. London: NLB, 1978.)

6. Poulantzas, Nicos. “The Problem of the Capitalist State.” New Left Review, số 58 (11–12/1969): 67–78.

7. Poulantzas, Nicos. “The Capitalist State: A Reply to Miliband and Laclau.” New Left Review, số 95 (1–2/1976): 63–83.

8. Miliband, Ralph. The State in Capitalist Society. London: Weidenfeld & Nicolson, 1969.

9. Miliband, Ralph. “The Capitalist State: Reply to N. Poulantzas.” New Left Review, số 59 (1–2/1970).

10. Miliband, Ralph. “Poulantzas and the Capitalist State.” New Left Review, số 82 (11–12/1973): 83–92.

11. Hall, Stuart. “Nicos Poulantzas: ‘State, Power, Socialism’.” New Left Review, số I/119 (1–2/1980): 60–69.

12. Jessop, Bob. Nicos Poulantzas: Marxist Theory and Political Strategy. London: Macmillan, 1985.

13. Martin, James (chủ biên). The Poulantzas Reader: Marxism, Law and the State. London: Verso, 2008.

14. “Nicos Poulantzas.” Wikipedia, Wikimedia Foundation. Truy cập tháng 9/2026


[1] Wikipedia, “Nicos Poulantzas” (mục từ tiếng Anh); Bob Jessop, Nicos Poulantzas: Marxist Theory and Political Strategy, London: Macmillan, 1985.

[2] Bob Jessop (1985), Nicos Poulantzas: Marxist Theory and Political Strategy, London: Macmillan; James Martin (chủ biên), The Poulantzas Reader, London: Verso, 2008.

[3] T. O’Hagan (1973), Nicos Poulantzas, Political Power and Social Classes, London: NLB/Sheed and Ward.

[4] T. O’Hagan (1973), Nicos Poulantzas, Political Power and Social Classes, London: NLB/Sheed and Ward, chương “Tính tự chủ tương đối”.

[5] R. Miliband, N. Poulantzas, “The Problem of the Capitalist State”, NLR 58 (1969); R. Miliband, “The Capitalist State: Reply to N. Poulantzas”, NLR 59 (1970); R. Miliband, “Poulantzas and the Capitalist State”, NLR 82 (1973); N. Poulantzas, “The Capitalist State: A Reply to Miliband and Laclau”, NLR 95 (1976).

[6] J. White (1974), Nicos Poulantzas, Fascism and Dictatorship, bản dịch, London: NLB.

[7] J. White (1974), sđd.

[8] Chẳng hạn khi ông đồng nhất cuộc nổi dậy của sinh viên Bách khoa Athens tháng 4 năm 1973 với phong trào Tháng Năm 1968 ở Paris, hay khi ông cổ suý một “liên minh cánh tả” (union de la gauche) kiểu Pháp cho chính trường Hy Lạp

Nguyễn Hoài Sơn
Tin tức mới