Ngược đãi tâm lý thời thơ ấu và hành vi gây hấn trực tuyến ở sinh viên
Nghiên cứu của Lei Xiang và cộng sự*, công bố trên tạp chí Scientific Reports, xem xét mối liên hệ giữa ngược đãi tâm lý thời thơ ấu và hành vi gây hấn trực tuyến ở sinh viên, đồng thời kiểm tra vai trò trung gian của hạnh phúc chủ quan và vai trò điều tiết của khó khăn trong diễn đạt cảm xúc.
|
Những trải
nghiệm này có thể liên quan đến sự suy giảm cảm giác an toàn, lòng tự trọng và
khả năng điều chỉnh cảm xúc, từ đó ảnh hưởng đến cách cá nhân ứng xử trong các
mối quan hệ xã hội.
|
Dựa trên lý
thuyết căng thẳng tổng quát (General Strain Theory), nhóm tác giả cho rằng
những trải nghiệm bất lợi có thể tạo ra căng thẳng cảm xúc và thúc đẩy các cách
ứng phó không thích nghi, trong đó có hành vi gây hấn trực tuyến (online
aggression). Bên cạnh đó, lý thuyết tự quyết (Self-Determination Theory) gợi ý
rằng các trải nghiệm tiêu cực trong gia đình có thể cản trở việc đáp ứng nhu
cầu tự chủ, năng lực và gắn kết, qua đó làm suy giảm hạnh phúc chủ quan
(subjective well-being).
Từ đó, nghiên
cứu kiểm tra giả thuyết: ngược đãi tâm lý thời thơ ấu có liên hệ với mức hạnh
phúc chủ quan thấp hơn, và hạnh phúc chủ quan thấp hơn có liên hệ với mức gây
hấn trực tuyến cao hơn. Nhóm tác giả cũng khám phá liệu khó khăn trong diễn đạt
cảm xúc (difficulty describing feelings) có làm thay đổi mức độ liên hệ giữa
ngược đãi tâm lý và gây hấn trực tuyến hay không.
Phương
pháp nghiên cứu
Nghiên cứu
được thực hiện qua hai đợt khảo sát tại sáu trường đại học ở miền Nam, Tây Nam
và miền Trung Trung Quốc. Đợt một, vào tháng 6/2025, thu thập thông tin hồi
tưởng về ngược đãi tâm lý trước 16 tuổi, hạnh phúc chủ quan hiện tại và khó
khăn trong diễn đạt cảm xúc. Đợt hai, vào tháng 1/2026, đo lường hành vi gây
hấn trực tuyến trong sáu tháng trước đó.
Trong số
2.363 sinh viên có bảng trả lời hợp lệ ở đợt đầu, 2.019 người được đưa vào phân
tích sau khi ghép nối và làm sạch dữ liệu, đạt tỷ lệ duy trì 85,44%. Tuổi trung
bình của mẫu là 18,97.
Ngược đãi tâm
lý được đo bằng bốn mục hỏi về lạm dụng và bỏ bê cảm xúc, với hệ số tin cậy
Cronbach’s alpha đạt 0,840. Khó khăn trong diễn đạt cảm xúc được đánh giá bằng
năm mục thuộc Thang đo khó nhận biết và diễn đạt cảm xúc Toronto (Toronto
Alexithymia Scale), với Cronbach’s alpha đạt 0,811. Hạnh phúc chủ quan và hành
vi gây hấn trực tuyến đều được đo bằng một câu hỏi.
Câu hỏi về
gây hấn trực tuyến đề cập đến các hành vi như xúc phạm, chế giễu, đe dọa, lan
truyền tin đồn, cố tình loại trừ hoặc chia sẻ thông tin riêng tư của người khác
khi chưa được đồng ý. Chỉ báo này phản ánh những hành vi liên quan đến bắt nạt
trên mạng (cyberbullying), nhưng chưa bao quát đầy đủ các đặc trưng của bắt nạt
như tính lặp lại và sự mất cân bằng quyền lực.
Dữ liệu được
phân tích bằng thống kê mô tả, tương quan và mô hình đường dẫn, có kiểm soát
giới tính, tuổi, năm học, tình trạng con một và trình độ học vấn của cha mẹ.
Kết
quả chính
Ngược đãi tâm
lý thời thơ ấu có liên hệ thuận với hành vi gây hấn trực tuyến (β = 0,279; p
< 0,001) và liên hệ nghịch với hạnh phúc chủ quan (β = −0,337; p <
0,001). Đồng thời, hạnh phúc chủ quan có liên hệ nghịch với gây hấn trực tuyến,
nhưng mức độ liên hệ nhỏ (β = −0,060; p < 0,01).
Phân tích
trung gian cho thấy tổng hiệu ứng thống kê của ngược đãi tâm lý đối với gây hấn
trực tuyến là 0,299; hiệu ứng trực tiếp là 0,279 và hiệu ứng gián tiếp thông
qua hạnh phúc chủ quan là 0,020. Hiệu ứng gián tiếp chiếm 6,69% tổng hiệu ứng,
với khoảng tin cậy 95% từ 0,003 đến 0,037, không bao gồm 0. Như vậy, hạnh phúc
chủ quan có vai trò trung gian có ý nghĩa thống kê, song chỉ giải thích một
phần nhỏ mối liên hệ.
Đối với khó
khăn trong diễn đạt cảm xúc, hiệu ứng điều tiết có ý nghĩa trong mô hình tuyến
tính ban đầu nhưng không được xác nhận nhất quán qua các phân tích kiểm tra độ
nhạy. Do đó, chưa đủ cơ sở để khẳng định đây là yếu tố làm thay đổi mối liên hệ
giữa ngược đãi tâm lý và gây hấn trực tuyến.
Mô hình giải
thích được 12,89% phương sai của hành vi gây hấn trực tuyến. Đáng chú ý, 83,16%
sinh viên cho biết chưa từng thực hiện các hành vi được hỏi trong sáu tháng
trước khảo sát. Sự tập trung lớn ở mức điểm thấp nhất, hay hiệu ứng sàn (floor
effect), cũng gây khó khăn cho việc ước lượng các mối liên hệ, đặc biệt là hiệu
ứng tương tác.
Ý
nghĩa và giới hạn của nghiên cứu
Kết quả bổ
sung bằng chứng về mối liên hệ giữa trải nghiệm ngược đãi tâm lý thời thơ ấu và
hành vi trực tuyến ở giai đoạn đại học, đồng thời gợi ý vai trò của hạnh phúc
chủ quan trong mối liên hệ này. Tuy nhiên, không thể từ đó suy luận rằng người
từng bị ngược đãi tâm lý tất yếu sẽ có hành vi gây hấn trên mạng.
Mặc dù có hai
đợt khảo sát, nghiên cứu chưa chứng minh được quan hệ nhân quả. Ngược đãi tâm
lý được đánh giá bằng hồi tưởng, hạnh phúc chủ quan được đo cùng thời điểm với
biến dự báo và mức gây hấn trực tuyến ban đầu chưa được kiểm soát. Ngoài ra, dữ
liệu hoàn toàn dựa trên tự báo cáo; việc sử dụng câu hỏi đơn để đo hạnh phúc
chủ quan và gây hấn trực tuyến cũng hạn chế khả năng phản ánh đầy đủ các khái
niệm.
|
Về thực tiễn,
nghiên cứu gợi ý các trường đại học quan tâm đến trải nghiệm bất lợi và sức
khỏe tâm lý của sinh viên khi xây dựng hoạt động hỗ trợ, tư vấn và phòng ngừa
gây hấn trực tuyến. Hoạt động hỗ trợ cần nhạy cảm với sang chấn, bảo vệ quyền
riêng tư và tránh gán nhãn sinh viên từng bị ngược đãi. Tuy vậy, nghiên cứu
chưa cung cấp bằng chứng rằng việc nâng cao hạnh phúc chủ quan sẽ trực tiếp làm
giảm gây hấn trực tuyến; giả thuyết này cần được kiểm chứng bằng các nghiên cứu
tiếp theo.
|
Phạm
Thu Huyền (lược dịch)
* Xiang, L., Zhang, S., Chen, Y., Zhang, T., Gao, S., Wang, Z.,
... & Chen, K. (2026). The longitudinal relationship between childhood
psychological maltreatment and the university student cyberbullying related
online aggression. Scientific Reports. Published online: 06 September 2026.
https://doi.org/10.1038/s41598-026-67418-9