Chuyên đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và liên hệ thực tiễn tại Viện Xã hội học và Tâm lý học”
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và đội ngũ cán bộ. Chuyên đề này tập trung phân tích những quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong bối cảnh Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người theo các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị. Trên cơ sở đó, chuyên đề liên hệ thực tiễn triển khai tại Viện Xã hội học và Tâm lý học, trong đó tập trung làm rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc học tập và vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người về công tác cán bộ, góp phần xây dựng tổ chức đảng và cơ quan ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới.
1. 1. Giới thiệu
Học
tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung đặc biệt quan trọng trong
công tác xây dựng Đảng, nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức,
xây dựng đội ngũ cán bộ.
Việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện rất rõ qua
các Chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam, cụ thể là Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 7/11/2006
của Bộ Chính trị về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh”, Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy
mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Chỉ thị số
05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và đặc biệt là Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021
của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về
đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
Tại Kết luận số
01 này, Bộ
Chính trị khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền
tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Tư tưởng, đạo đức, phong
cách của Người là động lực, nguồn sức mạnh to lớn để toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân ta phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và mọi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
Học tập và làm theo Bác để Đảng ta và mỗi đảng viên xứng đáng với vai trò, sứ mệnh
lãnh đạo cách mạng Việt Nam và sự tin cậy của nhân dân”. Tư tưởng, đạo đức,
phong cách của Người tiếp tục được Bộ Chính trị thể hiện rất rõ trong Nghị quyết
Đại hội XIV của Đảng khi đặt ra: “vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới” là kiên định đầu
tiên trong số “4 kiên định”. Nghị quyết Đại hội XIV cũng xác định một số nhiệm
vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ, trong đó có nhiệm vụ “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
công tác cán bộ bảo đảm thực chất, hiệu quả, nhất là công tác thẩm định, đánh
giá cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thật sự có đức, có tài, không ngừng
tự đổi mới, ngang tầm nhiệm vụ”.
Tại
Viện Xã hội học và Tâm lý học, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh luôn được xác định là một trong những nhiệm vụ chính trị
đặc biệt quan trọng và được vận dụng linh hoạt trong các hoạt động chuyên môn của
Viện. Điều này không chỉ được thể hiện qua việc tổ chức các buổi sinh hoạt định
kỳ mà còn thể hiện qua các hoạt động nghiên cứu, tư vấn chính sách cho Đảng và
Nhà nước. Đặc biệt, trong bối cảnh Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chuyển
về trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ
Chính trị cùng với việc bổ sung nhiệm vụ
về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, việc đẩy mạnh
học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung và về
công tác cán bộ nói riêng của Viện Xã hội học và Tâm lý học càng trở nên đặc biệt
quan trọng nhằm thực hiện tốt các chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần xây
dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy sự phát triển của
cơ quan, đơn vị, đất nước. Bài viết này tập trung phân tích một số quan điểm cơ
bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, từ đó liên hệ thực tiễn việc học
tập và vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về công tác cán bộ tại
Viện Xã hội học và Tâm lý học, trong đó tập
trung đánh giá những ưu điểm nổi bật, những tồn tại, hạn chế và giải pháp phát
huy ưu điểm và khắc phục hạn chế.
2. 2. Một số quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Trong
tư tưởng của Hồ Chí Minh, công tác cán bộ được xác lập như một trụ cột mang
tính quyết định trong toàn bộ tiến trình xây dựng Đảng và Nhà nước, bởi Người
quan niệm rằng đây là lĩnh vực kết tinh giữa lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin
và thực tiễn cách mạng Việt Nam, từ đó hình thành một hệ chuẩn mực vừa mang
tính nguyên lý vừa mang tính ứng dụng, định hướng cho mọi giai đoạn phát triển
của cách mạng.
Trong
tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác cán bộ được xác định là một nhiệm vụ
then chốt trong công tác xây dựng Đảng và tổ chức bộ máy nhà nước. Hệ thống các
quan điểm của Người về công tác cán bộ là sự kết hợp tinh tế giữa nền tảng lý
luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam, trở thành cơ sở
lý luận và thực tiễn để Đảng lãnh đạo, tổ chức và triển khai công tác cán bộ
phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn lịch sử cũng như tiến trình đổi mới và
phát triển đất nước.
Một
trong những quan điểm trung tâm của Người đối với công tác cán bộ là sự đề
cao đạo đức cách mạng của người cán bộ. Theo Người, đạo đức cách mạng của
người cán bộ phải thường xuyên được rèn giũa, thể hiện rõ trong công tác và
trong sinh hoạt thường ngày như “Trung với nước, hiếu với dân”, “Có tình thương
yêu con người, tình thương đồng bào, đồng chí”, “cần, kiệm, liêm, chính”, “chí
công vô tư”, “có tinh thần trách nhiệm trước công việc”, hay 5 điều mà Người
căn dặn “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm”, qua
đó hình thành nhân cách chính trị của người cán bộ vừa “có đức” vừa “có tài”
trước nhân dân. Người cho rằng “người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo
đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải phóng
cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình
không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi
việc gì?”.
Gắn
liền với đó là quan niệm của Người về mối quan hệ hữu cơ giữa cán bộ và quần
chúng, trong đó cán bộ phải tự ý thức mình là “công bộc của dân”, hành động
theo nguyên tắc: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến
dân, ta phải hết sức tránh”.
Ở đây, tính chính đáng của quyền lực không xuất phát từ vị trí tổ chức mà từ
khả năng đại diện và phục vụ lợi ích nhân dân.
Quan
điểm tiếp theo mà Người rất đề cao là đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân.
Theo Người, chống chủ nghĩa cá nhân gắn trực tiếp với vận mệnh của Đảng, hiệu lực
của bộ máy Nhà nước và sự thành bại của cách mạng. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa
cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy
hiểm như bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh, thiếu
kỷ luật, óc hẹp hòi, …”.
Người nhấn mạnh rằng cá nhân mắc phải các bệnh này thì dễ đặt lợi ích cá nhân
lên trên hết, để lợi ích của Đảng và dân tộc xuống dưới. Tuy nhiên, đấu tranh
chống chủ nghĩa cá nhân không đồng nghĩa với việc triệt tiêu vai trò cá nhân,
mà ngược lại, phải tạo điều kiện để mỗi cán bộ, đảng viên phát huy năng lực
chuyên môn, tư duy độc lập và tinh thần trách nhiệm trong đổi mới sáng tạo, dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, vì lợi ích chung của tập thể, đơn vị. Vì vậy,
trong bối cảnh hiện nay, đây là nhiệm vụ cấp bách và đặc biệt quan trọng nhằm
xây dựng Đảng vững mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Người
cũng nhấn mạnh đến yêu cầu về tri thức và năng lực lý luận của cán bộ,
trong đó việc học tập không chỉ là tích lũy tri thức mà còn là quá trình chuyển
hóa lý luận thành thực tiễn, chống lại cả hai khuynh hướng “kém lý luận” và “lý
luận suông”. Người khẳng định: “mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải
đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế. Phải chữa bệnh kém lý luận, khinh lý
luận và lý luận suông”.
Đồng thời đề cao phương pháp “lấy tự học làm cốt” và học từ nhân dân như một
hình thức tri thức thực hành mang tính thực tiễn. Người căn dặn: “học ở trường,
học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu
sót rất lớn” hay
“học phải đi đôi với hành”.
Thêm nữa, Người cũng nhấn mạnh cán bộ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân
dân. Cán bộ là người vừa truyền đạt, tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách vừa
phản ánh trung thực nguyện vọng của quần chúng để hoạch định đường lối phù hợp.
Người
cho rằng, để đáp ứng yêu cầu về tri thức và năng lực lý luận thì huấn luyện
và đào tạo là cực kỳ cần thiết. Huấn luyện và đào tạo là “công việc gốc
của Đảng”,
gắn với tầm nhìn dài hạn “vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.
Ở đây, đào tạo không chỉ là trang bị kỹ năng mà còn là quá trình xây dựng, bảo
vệ và phát triển nhân cách, năng lực một cách toàn diện nhằm tạo ra những cán bộ
có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng thích ứng với những biến động phức
tạp của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, Người còn nhấn mạnh việc phát hiện, lựa
chọn, trọng dụng nhân tài và “phải khéo dùng cán bộ” trong thực hiện các nhiệm
vụ. Khéo dùng cán bộ là “phải có quan điểm đúng, động cơ đúng, phải khách quan,
công tâm, công khai, dân chủ trong sử dụng cán bộ, biết bố trí, sắp xếp cán bộ
đúng người, đúng lúc, đúng việc, đúng năng lực, sở trường của họ”. Chủ
tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “dùng người như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ
to, nhỏ, thẳng cong đều tùy chỗ mà dùng được”,
tức đề cao việc phân công công việc, nhiệm vụ phù hợp với năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ và người lãnh đạo cần đặt sự tin tưởng vào cán bộ, tạo điều kiện,
cơ hội để khuyến khích họ phát huy dân chủ và tinh thần trách nhiệm của mình
trong thực hiện mọi nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức. Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí
Minh còn cho rằng khéo dùng cán bộ là biết kết hợp hài hòa giữa thế hệ cán bộ
đi trước và cán bộ kế cận, thể hiện qua việc phân công cán bộ đi trước dìu dắt,
hỗ trợ cho cán bộ trẻ phát triển chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Về
phương diện tổ chức quyền lực, Hồ Chí Minh đặt thực hành dân chủ như một
nguyên tắc vận hành song song với vấn đề sáng kiến và hăng hái. Người cho rằng
“Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến
đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học
theo”,
đồng thời dân chủ cũng là nhân tố quan trọng trong giải quyết các mâu thuẫn nội
tại. Dân chủ ở đây không chỉ là cơ chế mà còn là phong cách lãnh đạo, đòi hỏi
cán bộ phải chống lại chủ nghĩa cục bộ, hẹp hòi và đặt lợi ích của tập thể lên
trên hết, qua đó đảm bảo tính hợp lý và tính hợp pháp của quá trình ra quyết định.
Về
phương diện đánh giá cán bộ, Người cho rằng việc đánh giá cán bộ cần sự kết
hợp giữa tính thường xuyên, tính khách quan và tính công tâm, trong đó đặc
biệt nhấn mạnh đến đạo đức như tiêu chí phân biệt cán bộ tốt - kém. Người nhấn
mạnh rằng “muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”.
Người cũng đề cao việc phòng tránh các bệnh của người cán bộ như bệnh chủ quan,
bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi,…Người viết “Bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp
hòi, v.v., mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng
minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ
hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng những kẻ địch
đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó”.
Nhiệm
vụ đánh giá cán bộ cũng liên quan mật thiết với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về cân bằng giữa kỷ luật và nhân văn trong quản lý cán bộ. Người
cho rằng việc đánh giá cán bộ cần đề cao tính tự giác trong tự phê bình. Người
nhấn mạnh: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê
bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt”.
Người nêu cao thái độ tự phê bình và phê bình của cán bộ sẽ giúp chúng ta sửa
chữa và cùng nhau tiến bộ. Đồng thời, Người cũng khẳng định sự cần thiết của kỷ
luật như một thiết chế bảo đảm trật tự tổ chức. Người viết “Sửa chữa sai lầm,
cố nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hoá, dạy bảo. Song không phải
tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật
không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì
vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt
cũng không đúng. Vì vậy, cần phải phân tách rõ ràng cái cớ sai lầm, phải xét kỹ
lưỡng việc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng”.
Qua đó, thể hiện một cách tiếp cận điều tiết quyền lực mang tính biện chứng,
tránh cả hai cực đoan là buông lỏng và hà khắc.
Trong
tư tưởng của Hồ Chí Minh, công tác cán bộ không chỉ đòi hỏi tiêu chuẩn cao đối
với bản thân người cán bộ mà còn đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt đối với đội ngũ
lãnh đạo và những người làm công tác tổ chức cán bộ, phải thực sự “có đức, có
tài”, công tâm, trong sáng và giàu tính nhân văn trong quan hệ với cán bộ. Đồng
thời, các cơ quan, đơn vị phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc và quy trình, bảo
đảm tính dân chủ và minh bạch trong mọi khâu, đặc biệt là trong tuyển chọn, khi
cần tạo lập cơ chế cạnh tranh lành mạnh thông qua nhiều ứng viên đủ tiêu chuẩn
và thực hiện các hình thức như thi tuyển hoặc lấy phiếu tín nhiệm rộng rãi để lựa
chọn người xứng đáng.
Tư
tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ vẫn giữ nguyên giá
trị, xuyên suốt mọi khâu của quy trình như quy hoạch, đào tạo, đánh giá, bổ nhiệm,
luân chuyển và chính sách cán bộ, đồng thời được vận dụng linh hoạt qua các thời
kỳ. Việc học tập và vận dụng tư tưởng của Người hiện nay là yêu cầu cấp thiết
nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên”, đáp ứng vai trò nòng cốt
trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3. 3. Thực tiễn học
tập và vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về công tác cán bộ tại
Viện Xã hội học và Tâm lý học từ năm 2025 đến nay
3.1. 3.1. Những ưu điểm nổi bật
Trong thời gian từ năm 2025 đến nay, việc học tập và vận
dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về công tác cán bộ tại Viện Xã hội
học và Tâm lý học (Viện) đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Thứ nhất, Viện đã
xây dựng được đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn tương đối cao và khá ổn định.
Đặc biệt, Viện vừa tuyển dụng thêm 09 viên chức, trong đó có 07 người trước đó
làm việc tại Viện và 02 người mới kể từ 10/4/2026. Theo đó, tính đến tháng
4/2026, Viện có 61 viên chức và 01 cán bộ hợp đồng; trong đó có đội ngũ nghiên
cứu viên cao cấp, nghiên cứu viên chính chiếm tỷ lệ tương đối lớn, cùng với đội
ngũ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ và thạc sĩ có năng lực chuyên môn phù hợp với
yêu cầu nghiên cứu về lĩnh vực xã hội học và tâm lý học trong bối cảnh mới.
Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và tạo nguồn cán bộ kế cận cũng từng
bước được quan tâm triển khai trên cơ sở rà soát năng lực, phẩm chất chính trị
và triển vọng phát triển của đội ngũ viên chức.
Thứ hai, đội ngũ đảng
viên, viên chức và người lao động (gọi chung là cán bộ) của Viện luôn xác định
rõ làm việc để cống hiến cho sự phát triển của quốc gia, xã hội và con người. Định
hướng này được hiện thực hóa thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học và tư
vấn chính sách cho Đảng và Nhà nước, trong đó nhấn mạnh vai trò trung gian đại
diện, góp phần phản ánh và chuyển tải nguyện vọng, tâm tư của nhân dân vào quá
trình hoạch định chính sách. Cụ thể là năm 2025, Viện thực hiện đúng tiến độ của
33 nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp, trong đó có 06 đề tài, nhiệm
vụ chuyển tiếp từ năm 2023, 2024 (03 đề tài quỹ Nafosted, 02 nhiệm vụ cấp Bộ, 01 dự án hợp tác quốc tế); 01 đề tài hợp
tác với địa phương năm 2024-2025; 09 nhiệm vụ cấp Bộ năm 2025-2026 và 17 nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở năm 2025. Đặc biệt Viện đã triển khai các đề tài thuộc Chương trình KH & CN trọng điểm cấp Bộ giai đoạn
2025-2028: “Đánh giá tác động của sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính và giải
pháp quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ mới”; gửi 08 báo cáo tư vấn chính sách có giá trị
khoa học và ý nghĩa thực tiễn cao đến Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan Trung ương và các tỉnh/thành phố
trực thuộc Trung ương; các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng tâm lý như tham vấn,
trị liệu, tổ chức lớp kỹ năng sống được triển khai thường xuyên. Nhìn chung, cán bộ của Viện luôn thể hiện sự tâm
huyết, cống hiến tri thức đối với cơ quan, đất nước và nhân dân. Những hành động
này cũng thể hiện rõ giá trị đạo đức “trung với nước, hiếu với dân”, “cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư”, “có
tinh thần trách nhiệm trước công việc” cũng như những yêu cầu gắn lý luận với
thực tiễn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng trong công tác cán bộ.
Thứ ba, song song với chức năng nghiên cứu phục vụ phát triển, Viện còn tích cực
triển khai các hoạt động thiện nguyện và phát triển cộng đồng. Tiêu biểu là
chương trình “Tiếp sức em đến trường” được tổ chức vào tháng 4/2026 tại Trường
Tiểu học và Trung học cơ sở Pác Bó, xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng, hướng tới hỗ
trợ thiết thực cho học sinh ở khu vực biên giới còn nhiều khó khăn,
cùng với các hoạt động xã hội khác do Viện Hàn lâm phát động. Những hoạt động
này góp phần thể hiện tinh thần nhân văn, trách nhiệm xã hội và mối quan hệ gắn
bó giữa đội ngũ cán bộ của Viện với cộng đồng, xã hội.
Thứ tư, trong công tác đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, Viện luôn đặc biệt
chú trọng đến công tác này, xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm
xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.
Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng, chống các biểu hiện của
chủ nghĩa cá nhân, Viện thường xuyên quán triệt tinh thần đề cao trách nhiệm tập
thể, ý thức phục vụ nhân dân, tinh thần tận tụy trong công việc, đạo đức nghề
nghiệp và phát huy vai trò của mỗi cá nhân trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Viện luôn tạo mọi điều kiện để mỗi cán bộ
phát huy năng lực chuyên môn, tư duy, đổi
mới sáng tạo và trách nhiệm vì lợi ích chung.
Quá trình hoạt động của Viện cho thấy đội ngũ cán bộ của
Viện luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích của cơ quan, tập thể lên
trên lợi ích cá nhân, đặc biệt là tinh thần đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau, phối hợp
trong công tác chuyên môn cũng như trong các hoạt động chung của Viện. Điều này
được thấy rất rõ không chỉ trong hoạt động nghiên cứu mà còn trong tất cả các sự
kiện của Viện. Các cán bộ của Viện luôn phối hợp tốt để hoàn thành các nhiệm vụ
được giao, từ đó mọi chương trình nghiên cứu, sự kiện của Viện đều diễn ra
thành công tốt đẹp.
Trên thực tế, Viện cũng từng
bước vận dụng quan điểm “dụng nhân như dụng mộc”, tức “dùng người như dùng gỗ” của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong công tác phân công và sử dụng cán bộ. Việc giao nhiệm vụ được
thực hiện phù hợp với năng lực, sở trường và kinh nghiệm chuyên môn của từng cán
bộ, đặc biệt là chú trọng phát huy thế mạnh và tiềm năng vốn có của cán bộ trong
các lĩnh vực như nghiên cứu hàn lâm, khảo sát thực địa xã hội học, tư vấn và
tham vấn tâm lý. Đồng thời, Viện cũng quan tâm phát huy tính kế thừa và hỗ trợ
giữa các thế hệ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trẻ thông qua việc kết hợp kinh
nghiệm của đội ngũ cán bộ đi trước, với năng lực, tư duy đổi mới của đội ngũ
cán bộ trẻ. Qua đó, không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ
chuyên môn mà còn tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ cán bộ trẻ phát triển
năng lực, tích lũy kinh nghiệm và từng bước trưởng thành trong hoạt động nghiên
cứu, tư vấn chính sách và đóng góp vào sự phát triển của cơ quan, đơn vị cũng
như đất nước. Điều này được thể hiện tương đối rõ qua việc phân công nhiệm vụ
trong chương trình công tác hằng năm của Chi bộ và Quyết định phân công nhiệm vụ
đảng viên; việc giao thực hiện các báo cáo tư vấn chính sách, báo cáo đột xuất
theo yêu cầu của cấp trên theo hướng kết hợp giữa đội ngũ chuyên gia có kinh
nghiệm và đội ngũ cán bộ trẻ cũng như việc bố trí, triển khai các nhiệm vụ liên
quan đến công tác truyền thông và hoạt động chuyên môn khác của Viện.
Ngoài
ra, Viện thường xuyên chú trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao
nhận thức cho cán bộ về những biểu hiện tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân như tư
tưởng vụ lợi, thiếu tinh thần trách nhiệm, ngại khó, ngại khổ, thiếu ý thức tổ
chức kỷ luật, cục bộ, bè phái hoặc biểu hiện thờ ơ trước lợi ích chung của tập
thể. Thông qua các buổi sinh hoạt Chi bộ, họp Viện, hội nghị chuyên đề, hoạt động
học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cán bộ có cơ hội
được tự soi, tự sửa, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất chính trị và
đạo đức công vụ.
Công
tác kiểm tra, giám sát cũng được Viện quan tâm thực hiện thường xuyên nhằm kịp
thời phát hiện, nhắc nhở và chấn chỉnh những biểu hiện thiếu trách nhiệm, vi phạm
quy chế làm việc hoặc ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết nội bộ. Điều này được thể
hiện rất rõ qua các cuộc họp của Viện, của Phòng. Ban Lãnh đạo và các đồng chí
phụ trách Phòng khi phát hiện cán bộ có những biểu hiện, hành vi chưa chuẩn mực,
thiếu kỷ luật,... đều góp ý, nhắc nhở để hoàn thiện hơn tác phong, lề lối làm
việc, ý thức tổ chức kỷ luật. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm ngăn ngừa
các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, xây dựng môi trường làm việc lành mạnh,
chuyên nghiệp và đoàn kết.
Thứ
năm, Viện cũng chú trọng nâng cao năng lực lý luận chính trị và trình
độ đào tạo của đội ngũ cán bộ thông qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng chính trị,
các hoạt động về nguồn, học tập nghị quyết và tham gia các cuộc thi chính luận
bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Điển hình như tháng 4/2026, Viện đã tổ chức hoạt
động về nguồn tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó, tỉnh Cao Bằng, địa danh
gắn liền với quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hoạt động
không chỉ mang ý nghĩa tri ân sâu sắc đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, mà
còn góp phần củng cố nhận thức chính trị, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng và đạo đức
công vụ trong đội ngũ cán bộ của Viện;
hay các buổi sinh hoạt chuyên đề định kỳ của Chi bộ cũng như các buổi học tập,
quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Điển hình như Quý I năm 2026, Chi bộ
tổ chức sinh hoạt chuyên đề về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng;
toàn thể cán bộ của Viện tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học
tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa XIV; Hội
nghị Thông báo nhanh kết quả Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XIV và Triển khai Quyết định số 12-QĐ/TW ngày 30/3/2026 của Bộ Chính trị về
chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; cán
bộ của Viện còn tham gia cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ sáu, việc thực
hành dân chủ tại Viện được triển khai tương đối toàn diện và có hệ thống, dựa
trên nền tảng các quy chế nội bộ đã được ban hành và chuẩn hóa. Các văn bản như
Quy chế tổ chức và hoạt động, Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế làm việc, Quy chế
định mức công việc (KPI), Quy chế văn hóa công sở, Quy chế quản lý và sử dụng
tài sản công, Quy chế đánh giá viên chức và người lao động, Quy chế tiền thưởng,
cùng với Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đã tạo nên một khung thể chế tương đối
đầy đủ, góp phần đảm bảo tính minh bạch, công khai và khả năng tham gia của các
cán bộ trong Viện.
Trong thực
tiễn hoạt động của Viện, các cuộc họp được tổ chức theo hướng khuyến khích sự
tham gia rộng rãi của cán bộ trong việc đóng góp ý kiến, đưa ra sáng kiến đối với
các vấn đề liên quan đến hoạt động chuyên môn cũng như các vấn đề liên quan
khác. Ngoài ra, các thông tin về quyền hạn, nhiệm vụ và cơ hội như tuyển dụng,
bổ nhiệm, hay các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đều được công khai minh bạch
trong quá trình tổ chức thực hiện, do đó, Viện không để xảy ra những vấn đề mâu
thuẫn lợi ích, mâu thuẫn nội bộ.
Trong bối
cảnh chuyển đổi số hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng môi
trường làm việc số đang trở thành một phương thức quan trọng nhằm tăng cường thực
hành dân chủ, công khai và minh bạch trong công tác cán bộ của Viện. Các hoạt động
quản lý văn bản, điều hành, chia sẻ dữ liệu và thông tin chuyên môn từng bước
được triển khai đồng bộ trên môi trường số, góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp
công việc cũng như khả năng tiếp cận thông tin của đội ngũ cán bộ. Điển hình là
việc triển khai Hệ thống Quản lý văn bản và điều hành của Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam, qua đó, cán bộ được tiếp cận tương đối đầy đủ, kịp thời các
văn bản, thông tin chỉ đạo từ Trung ương, Viện Hàn lâm và Viện thông qua tài
khoản cá nhân được cấp. Bên cạnh đó, cổng thông tin điện tử (website) của Viện
cũng được chú trọng phát triển, thường xuyên cập nhật và công khai các thông
tin liên quan đến hoạt động chuyên môn, quản lý và các thông tin chỉ đạo, điều
hành, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin
trong toàn Viện.
Ngoài ra,
công tác đánh giá cán bộ được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc dân
chủ, công bằng và minh bạch. Quá trình đánh giá không chỉ dựa trên các tiêu chí
định lượng như hiệu quả công việc, mức độ hoàn thành nhiệm vụ mà còn xem xét đến
các yếu tố định tính như tinh thần trách nhiệm và mức độ đóng góp cho tập thể.
Những cá nhân có thành tích nổi bật trong hoạt động chuyên môn, tích cực tham
gia vào các hoạt động chung của Viện và không vi phạm kỷ luật lao động hoặc
pháp luật đều được xem xét, đề xuất khen thưởng thông qua Hội đồng thi đua -
khen thưởng của Viện.
3.2. 3.2. Những tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc học tập và vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ tại Viện vẫn còn một số hạn chế cần tiếp
tục khắc phục.
Thứ
nhất, việc nhận thức một cách sâu sắc về học tập và làm theo tư tưởng đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đội ngũ cán bộ của Viện chưa thực sự đồng đều.
Thứ
hai, trong bối cảnh Viện là một cơ quan đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng và đồng thời được giao bổ sung nhiệm vụ “bảo vệ nền tảng
tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái,
thù địch”, yêu cầu nâng cao trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ
của Viện trở nên đặc biệt cấp thiết. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy tỷ
lệ cán bộ đạt trình độ lý luận chính trị cao cấp và trung cấp chưa cao.
Thứ
ba, công tác quy hoạch cán bộ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
trong bối cảnh Viện bước vào giai đoạn phát triển mới sau quá trình hợp nhất vẫn
còn đặt ra một số yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện. Dù đã được quan tâm triển
khai, song việc xây dựng chiến lược phát triển nhân lực mang tính dài hạn, đặc
biệt trong công tác phát hiện, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ trẻ có tiềm
năng vẫn cần được quan tâm hơn nữa. Bên cạnh đó, việc tạo nguồn cán bộ kế cận
sau sáp nhập Viện còn đặt ra những yêu cầu về tính kế thừa, sự ổn định và khả
năng thích ứng với môi trường nghiên cứu mới.
Thứ
tư, trong công tác đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, mặc dù công tác
giáo dục chính trị, tư tưởng đã được triển khai thường xuyên, song vẫn có thể
xuất hiện tâm lý làm việc theo hướng an toàn, hạn chế va chạm hoặc chưa mạnh dạn
trong đổi mới sáng tạo ở một số cán bộ. Trong môi trường nghiên cứu khoa học,
việc hài hòa giữa yêu cầu về kỷ luật, việc phát huy tư duy phản biện và vai trò
chủ động của cán bộ trong hoạt động chuyên môn vẫn là vấn đề cần tiếp tục được
quan tâm.
Thứ
năm, mặc dù chuyển đổi số trong công tác cán bộ đã đạt được những kết
quả tích cực, song một số nội dung liên quan đến đồng bộ dữ liệu trên môi trường
số vẫn cần tiếp tục hoàn thiện. Việc chia sẻ dữ liệu nghiên cứu trên môi trường
số hiện vẫn đang từng bước được triển khai và hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu
nâng cao hiệu quả quản lý trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
3.3. 3.3. Giải pháp
phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế
Để
tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được và khắc phục các hạn chế nêu trên,
Viện cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp trong thời gian tới.
Thứ
nhất, cần tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị vững
vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng và năng lực chuyên môn cao theo tinh thần
tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ. Trong đó, cần xem việc nâng cao trình
độ lý luận chính trị là yêu cầu quan trọng gắn với năng lực chuyên môn và trách
nhiệm chính trị của đội ngũ cán bộ của Viện trong bối cảnh mới. Viện cần từng
bước thể chế hóa yêu cầu về trình độ lý luận chính trị trong công tác quy hoạch,
bổ nhiệm và đánh giá cán bộ. Ngoài ra, Viện cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với đặc thù của cơ
quan nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là lĩnh vực nghiên cứu về
xã hội học và tâm lý học. Việc tổ chức các hoạt động về nguồn, sinh hoạt chuyên
đề, học tập nghị quyết hoặc tham gia các cuộc thi chính luận cần được gắn chặt
hơn với nhiệm vụ nghiên cứu,bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
trong lĩnh vực này.
Thứ
hai, cần sớm ban hành chiến lược phát triển nguồn nhân lực gắn với
công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý và tạo nguồn cán bộ kế cận trong bối
cảnh mới. Trọng tâm là thúc đẩy tham gia đào tạo tiến sĩ, xét phong hàm giáo
sư, phó giáo sư cũng như nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học; tăng cường phát
hiện, bồi dưỡng và giao nhiệm vụ đối với đội ngũ cán bộ trẻ có triển vọng; tạo
điều kiện để cán bộ trẻ tham gia các đề tài nghiên cứu lớn, các hoạt động tư vấn
chính sách, hợp tác quốc tế. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế khuyến khích, thu
hút và trọng dụng nhân tài, bảo đảm việc bố trí, sử dụng cán bộ đúng năng lực,
sở trường và tạo môi trường để cán bộ phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo, dám
nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Bên cạnh đó, Viện cần tiếp tục củng cố mô hình
kết hợp giữa đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm với đội ngũ cán bộ trẻ nhằm
hình thành cơ chế truyền tải kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm chuyên môn, làm
nền tảng trong việc xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, đáp ứng yêu cầu trong bối
cảnh mới.
Thứ ba, để đấu tranh
hiệu quả với chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, Viện cần tiếp tục tăng cường
và đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao nhận thức, bản
lĩnh chính trị, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới sáng tạo và ý thức trách
nhiệm của đội ngũ cán bộ gắn với lợi ích tập thể để tạo ra các sản phẩm khoa học,
báo cáo tư vấn chính sách có giá trị, đóng góp vào thực tiễn phát triển đất nước.
Đồng thời, việc đổi mới này cũng sẽ hạn chế tình trạng tâm lý sợ sai, né tránh
trách nhiệm, làm việc cầm chừng, lựa chọn an toàn, ngại va chạm, ngại đổi mới
và chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân của cán bộ Viện. Để làm được điều này, Viện cần
có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung.
Thứ
tư, Viện cần từng bước hoàn thiện hạ tầng số, xây dựng cơ sở dữ liệu
nghiên cứu dùng chung trên trang thông tin của Viện và đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ trong quản lý, đánh giá, quy hoạch và sử dụng cán bộ; qua đó góp phần nâng
cao tính công khai, khách quan và trách nhiệm giải trình trong công tác cán bộ.
Tài
liệu tham khảo