Jürgen Habermas – Nhà xã hội học tân Marxist của trường phái Frankfurt
Lượt xem: 19
Ngày 14 tháng 3 năm 2026, nhà triết học và xã hội học người Đức Jürgen Habermas đã qua đời tại Starnberg (Đức), hưởng thọ 96 tuổi. Ông được xem là một trong những nhà tư tưởng có ảnh hưởng nhất của nước Đức kể từ sau chiến tranh Thế giới lần thứ hai

Friedrich Ernst Jürgen Habermas sinh ngày 18 tháng 6 năm 1929 tại Düsseldorf, Đức và lớn lên ở Gummersbach. Ông là con thứ hai trong một gia đình Tin Lành thuộc tầng lớp trung lưu. Habermas bị hở hàm ếch và trải qua nhiều lần phẫu thuật để chỉnh sữa trong suốt thời thơ ấu nhưng chỉ thành công một phần do đó có tật nói lắp và thường bị bắt nạt khi còn nhỏ.

Thời niên thiếu của Habermas chứng kiến thảm hoạ và tội ác của chế độ phát xít Đức và điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành tư tưởng phê phán và dân chủ của Ông sau này. Habermas học triết học tại Göttingen, Zurich, Bonn và nhận bằng tiến sĩ năm 1954 tại đây. Trước đó một năm, ở tuổi 24, Habermas đã phê phán Martin Heidegger, nhà triết học nổi danh nhất nước Đức thời bấy giờ vì đã không dám đối mặt với quá khứ Đức Quốc xã. Habermas đã viết: “Chẳng phải nhiệm vụ hàng đầu của những người biết suy xét là làm sáng tỏ những hành động có trách nhiệm trong quá khứ và giữ gìn kiến thức về chúng sao?”

Từ năm 1956 đến 1959 Ông làm trợ lý nghiên cứu cho Theodor Adorno tại Viện Nghiên cứu Xã hội ở Frankfurt (hay còn gọi là Trường phái Frankfurt)[1]. Năm 1961, Ông trở thành giáo sư Triết học và Xã hội học tại Đại học Heidelberg, từng là giám đốc Viện Max Planck ở Starnberg (1971–1981) trước khi quay lại giảng dạy tại Đại học Frankfurt từ 1983 đến khi nghỉ hưu năm 1994.

Trong sự nghiệp, Habermas đã xuất bản nhiều công trình đáng chú ý. Những tác phẩm của Ông được xem là đã định hình các cuộc tranh biện không chỉ trong triết học, mà còn trong xã hội học, khoa học chính trị, lịch sử, luật pháp, nghiên cứu văn hóa. Tuy nhiên, trọng tâm trong các công trình của Habermas là về các nhà lý luận của Trường phái Frankfurt và các nhà lý luận cổ điển như Karl Marx, Freud và Marx Weber. Mục tiêu chính của ông là cải tiến lý thuyết phê phán cổ điển của chủ nghĩa Mác để hướng tới dân chủ hoá và giải phóng con người thông qua đối thoại thay vì chỉ tập trung phê phán sự thống trị của tư bản. Habermas mở rộng ý tưởng của K. Marx về con người bằng cách bổ sung ngôn ngữ (giao tiếp) vào công việc (lao động) như một đặc điểm riêng biệt của loài người. Khác với các tiền bối của Trường phái Frankfurt như Adorno và Horkheimer vốn tập trung vào sự thống trị của kỹ thuật, Habermas xây dựng “lý thuyết hành động giao tiếp” và cho rằng sự hiểu biết và đồng thuận giữa người với người thông qua ngôn ngữ (giao tiếp) là nền tảng để xây dựng một xã hội hợp lý.

Ông đã phân tích bản chất lịch sử của “các vấn đề quản trị và khủng hoảng” trong bốn loại hình xã hội là sơ khai, truyền thống, tư bản và hậu tư bản. Các vấn đề quản trị xã hội liên quan đến hội nhập hệ thống và hội nhập xã hội. Habermas định nghĩa hội nhập xã hội là “thế giới sống được cấu trúc hoá mang tính biểu tượng” – các cấu trúc chuẩn mực liên quan đến tích hợp và duy trì khuôn mẫu (thuật ngữ của Talcott Parsons). Hội nhập hệ thống đề cập đến việc kiểm soát hoặc “điều kiện hiệu suất của một hệ thống tự điều chỉnh”. Hội nhập hệ thống bao gồm sự thích ứng và đạt được các mục tiêu đề ra. Theo Habermas, khủng hoảng xảy ra (1) Khi các thành viên của một xã hội trải qua những thay đổi cấu trúc mang tính sống còn đối với sự tồn tại tiếp tục và cảm thấy bản sắc xã hội của họ bị đe dọa; và (2) Khi sự hội nhập xã hội “bị đe dọa, tức là khi nền tảng đồng thuận của các cấu trúc chuẩn mực” bị phá vỡ và xã hội trở nên loạn chuẩn. Mô hình tiến hóa về sự thay đổi xã hội của Habermas khác với sự nhấn mạnh của chủ nghĩa Mác vào kinh tế vốn tập trung vào tầm quan trọng của sự hợp pháp hóa chuẩn mực trong quá trình thay đổi xã hội.

Từ đó, Habermas phân biệt xã hội thành hai phần: (1) Hệ thống (nhà nước, nền kinh tế) hoạt động dựa trên lý tính công cụ/quyền lực và (2) Thế giới đời sống (gia đình, công luận) dựa trên giao tiếp và văn hoá. Ông phê phán sự xâm lấn của hệ thống và thế giới đời sống. Từ đây, ông phát triển khái niệm “không gian công cộng” vào đầu những năm 1960, một trong những khái niệm nổi tiếng và là trung tâm trong hệ tư tưởng của Ông. Habermas giả thuyết rằng nền dân chủ chỉ có thể tồn tại và hoạt động hiệu quả nếu có một không gian công cộng, nơi công dân có thể tranh luận và đưa ra quyết định mà không bị áp lực nào với sự trao đổi thông tin tự do và minh bạch. Khái niệm này đã lan rộng sang nhiều lĩnh vực học thuật, từ khoa học chính trị và lịch sử đến nghiên cứu truyền thông, tạo ra hàng nghìn bài báo và sách.

Bắt đầu từ những năm 1970, ông đã viết về “tình huống đối thoại lý tưởng”, một tình huống mà mọi người cùng ngồi lại với nhau trên cơ sở bình đẳng và thông qua quá trình đối thoại hợp lý để đi đến chân lý - một ý tưởng mà ông đã mở rộng trong tác phẩm chính của mình, “Lý thuyết hành động giao tiếp” (1981). Ông viết rằng kiểu xây dựng sự đồng thuận thông qua đối thoại này sẽ cho phép công dân “thực hiện ảnh hưởng tập thể đối với vận mệnh xã hội của họ”. Có lẽ sự lạc quan không lay chuyển của Ông về khả năng xã hội loài người có thể đạt được nền dân chủ ổn định và hội nhập thông qua đối thoại là điều đặc biệt và sẽ còn gây ấn tượng cũng như ảnh hưởng lâu dài cho hậu thế./.



[1] Adorno làm việc với nhà xã hội học Max Horkheimer (Viện trưởng Viện nghiên cứu xã hội Frankfurt). Adorno và Horkheimer là những nhà trí thức người Đức có sức ảnh hưởng lớn, họ đã phát triển “Trường phái Frankfurt” về lý thuyết phê phán. Các đại biểu của trường phái Frankfurt đã nỗ lực phát triển chủ nghĩa Mác nhằm phê phán xã hội tư sản hiện đại (lý thuyết phê phán).

Nguyễn Hoài Sơn
Các bài tạp chí tiêu biểu