1. Dấu ấn sâu đậm trong tiến trình lịch sử dân tộc
Sau thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945, ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[1].
Ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị phải tổ chức cuộc Tổng tuyển cử của nước Việt Nam độc lập, “đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức”[2]. Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu, đưa ra đề nghị có giá trị như một tuyên bố lập hiến: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống...”[3].
Ngày 8-9-1945, thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 14/SL quy định thời hạn hai tháng kể từ ngày ký sắc lệnh sẽ mở cuộc Tổng tuyển cử và sẽ thành lập một Uỷ ban khởi thảo Hiến pháp gồm 7 người. Sắc lệnh ghi rõ: “…nước Việt Nam sẽ theo chính thể dân chủ cộng hoà và Chính phủ nhân dân toàn quốc sẽ do một Quốc dân Đại hội bầu theo lối phổ thông đầu phiếu cử lên. Xét rằng nhân dân Việt Nam do Quốc dân Đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ cộng hoà. Xét rằng trong tình thế hiện giờ sự triệu tập Quốc dân Đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống nạn ngoại xâm”[4].
Nhận thức rõ tầm quan trọng của cuộc Tổng tuyển cử trong đời sống chính trị của nhân dân Việt Nam, các lực lượng đối lập ra sức chống phá. Điển hình là các báo Đồng tâm, Thiết thực, Việt Nam... đăng tải những bài viết có nội dung bôi nhọ Đảng Cộng sản, nói xấu Việt Minh, phá hoại Tổng tuyển cử, lập luận rằng trình độ dân trí của nhân dân Việt Nam còn thấp, “chưa biết dùng quyền dân chủ”; do đó, “bọn đầu cơ sẽ lợi dụng. Cuộc Tổng tuyển cử sẽ thất bại”[5]. Hay như các đảng phái Việt Quốc, Việt Cách dựa vào thế lực Tưởng Giới Thạch đòi lập lại Chính phủ, xoá bỏ chính quyền cách mạng, đòi cho đại diện của họ giữ vị trí cao trong Chính phủ, đòi nắm Bộ Nội vụ, Tài chính, Kinh tế, Quốc phòng…, đòi chiếm 1/3 số ghế trong Quốc hội cũng như Việt Minh.
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh chính trị chuẩn bị cho Tổng tuyển cử đầu tiên để bầu Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam độc lập. Trên các tờ báo Cứu quốc, Sự thật, Quốc hội... xuất hiện hàng loạt những bài viết về Tổng tuyển cử, về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, về vai trò của Quốc hội, vai trò của Hiến pháp… Cổ vũ quần chúng tích cực tham gia Tổng tuyển cử, Báo Cứu quốc gọi đây là dịp thực sự “cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nước nhà. Tổng tuyển cử nghĩa là tự do, bình đẳng, tức là dân chủ, đoàn kết"[6]. Ra đời trong thời kỳ Tổng tuyển cử và phục vụ Tổng tuyển cử, Nhật báo Quốc hội truyền tải thông điệp: Muốn giữ vững độc lập phải đi bầu cử; hãy trân trọng tìm người ứng cử vào Quốc hội; mỗi lá phiếu là một viên đạn diệt quân thù; ngày tổng tuyển cử là ngày toàn thể dân chúng Việt Nam được quyền tự do định đoạt số phận của mình… Trả lời phỏng vấn về vấn đề Quốc hội sẽ làm những gì cho nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vốn bản chất là hiện thân của dân tộc, Quốc hội sẽ làm tất cả những gì mà nhân dân mong muốn”[7].
Ngày 1-1-1946, Chính phủ lâm thời cải tổ, mở rộng thành Chính phủ liên hiệp lâm thời, để Nguyễn Hải Thần (đại diện Việt Cách) giữ chức Phó Chủ tịch và Trương Đình Tri (đại diện Việt Quốc) giữ chức Bộ trưởng Bộ Y tế. Chính phủ liên hiệp lâm thời gồm 16 thành viên[8] do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đã tuyên bố một trong những nhiệm vụ quan trọng là “làm sao cho cuộc toàn dân tuyển cử được thành công mỹ mãn và chuẩn bị sẵn sàng việc khai Quốc hội”[9].
Ngày 3-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp của Chính phủ liên hiệp lâm thời, kiểm tra lần cuối cùng những công việc của tổng tuyển cử. Ngày 5-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào cả nước thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân của mình: “Ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình... Ngày mai, dân ta sẽ được tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước...”[10]. Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên “đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên hôm nay tất cả đi bỏ phiếu, để bầu những người đại biểu xứng đáng đứng vào Quốc hội đầu tiên của nước ta”[11].
Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra sôi nổi trong cả nước và diễn ra đúng kế hoạch, theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Mặc cho các lực lượng chống đối tuyên truyền bôi xấu, phá hoại, nhiều người có tài, đức, thực tâm yêu nước đã tự ứng cử hoặc được các đoàn thể quần chúng giới thiệu ra ứng cử. Các tầng lớp nhân dân phấn khởi, nhiệt liệt hưởng ứng, tham gia bầu cử, tạo nên một bầu không khí dân chủ, lành mạnh.
Tại Hà Nội, “hàng chục vạn cử tri đã đi bỏ phiếu (Hồ Chí Minh ứng cử tại Hà Nội). Trong cuộc bầu cử tại Hà Nội, đã có 172.765 trong tổng số 187.880 người, tức 91,95% cử tri của cả 74 khu phố nội thành và 118 làng ngoại thành đã đi bỏ phiếu. Sáu trong tổng số 74 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội. Người trúng cử thấp phiếu nhất là 52,5%, người đạt phiếu cao nhất là Hồ Chí Minh được 169.222 phiếu, tức đạt 98,4%[12]. Mặc dù phải đối phó với âm mưu phá hoại của các lực lượng chống đối, song ở miền Bắc, Tổng tuyển cử diễn ra an toàn. Hải Phòng đã có tới 96% cử tri đi bỏ phiếu. Ở nhiều địa phương như ở Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Tân An, Tây Nguyên…, cuộc bầu cử đã diễn ra dưới bom đạn ác liệt của kẻ thù. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong khi làm phục vụ Tổng tuyển cử (riêng Sài Gòn và Chợ Lớn đã có tới 42 cán bộ và chiến sĩ đã hy sinh, trong đó có Nguyễn Văn Tư - cán bộ của Tổng Công đoàn). Bất chấp mọi sự đánh phá, ở Nam Bộ, Tổng tuyển cử vẫn thu được kết quả tốt đẹp, nhiều tỉnh còn đạt số cử tri đi bỏ phiếu rất cao (Sa Đéc đạt 93,54%, Bạc Liêu đạt 90,97%). Tại Tây Nguyên, thực dân Pháp dùng máy bay ném bom lửa để khủng bố dân chúng, song Tổng tuyển cử vẫn được tiến hành. Nhìn chung, cuộc Tổng tuyển cử đã được toàn dân tham gia rộng rãi; tại 71 tỉnh thành trong cả nước, đã có 89% tổng số cử tri đi bỏ phiếu, phổ biến là 80%, nhiều nơi đạt 90-95%, trừ một số nơi phải bầu bổ sung, còn tuyệt đại đa số các địa phương chỉ bầu một lần. Cả nước đã bầu được 333 đại biểu, trong đó có 57% số đại biểu thuộc các đảng phái dân chủ khác nhau, 43% đại biểu không đảng phái, 87% số đại biểu là công nhân, nông dân, chiến sĩ cách mạng, 10 đại biểu nữ và 34 đại biểu thuộc các dân tộc ít người”[13].
Cuộc Tổng tuyển cử là mốc son chói lọi, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta, người dân từ thân phận nô lệ đã trở thành công dân của một nước tự do, độc lập, tự quyết định vận mệnh của mình, tự lựa chọn và dựng xây chế độ Cộng hoà dân chủ. Đặc biệt, so với nhiều nước trên thế giới thời điểm đó, Việt Nam không những đã trở thành một quốc gia độc lập mà còn có cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, thay mặt nhân dân quyết định những công việc hệ trọng của đất nước. Đó là Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là biểu tượng sinh động của tinh thần yêu nước, truyền thống giữ vững độc lập, tự do của dân tộc; thắng lợi của chính thể dân chủ cộng hoà lần đầu tiên được thiết lập trên đất nước Việt Nam. Nói về thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Tổng tuyển cử đã chứng tỏ cho toàn thế giới biết rằng, “người Việt Nam không chỉ có khả năng tự trị, mà còn biết tự tổ chức một cách dân chủ nữa”[14].
Sự ra đời của Quốc hội là thành quả đấu tranh cách mạng của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quá trình hình thành và sự ra đời của Quốc hội là kết tinh của sự lựa chọn đúng đắn, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với những giá trị phổ quát của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân và quy luật phát triển của lịch sử. Trải qua 80 năm hình thành và phát triển (1946-2026), với 15 khóa, Quốc hội Việt Nam đã có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như Đảng ta nhiều lần khẳng định. Thành tựu Quốc hội Việt Nam đạt được trong 80 năm qua còn góp phần to lớn vào xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc; không ngừng nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế; qua đó, Quốc hội Việt Nam ngày càng khẳng định vị trí, vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
2. Những bài học kinh nghiệm cho công tác bầu cử hiện nay
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 là một sự kiện lịch sử trọng đại. Nó mở đầu cho quá trình xây dựng chế độ dân chủ mới. Đó cũng là sự khởi đầu và phát triển của Quốc hội, một thiết chế dân chủ, thiết chế trụ cột trong Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. 80 năm đã trôi qua, nhìn lại cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên để lại nhiều bài học quý báu:
Thứ nhất, phải đặt trọn niềm tin vào nhân dân
Ngược dòng lịch sử có thể thấy, trong thế nước “Ngàn cân treo sợi tóc”, khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt niềm tin không bờ bến vào nhân dân, vì Người tin rằng, nhân dân Việt Nam có niềm tin mãnh liệt vào Đảng, vào chính quyền cách mạng và giao trọn niềm tin của họ cho Đảng, cho chính quyền cách mạng. Điều đó thể hiện mối quan hệ biện chứng về niềm tin giữa nhân dân với các thiết chế quyền lực trong một xã hội dân chủ. Hãy liên tưởng để nghe âm hưởng không khí sục sôi của ngày Tổng tuyển cử 6-1-1946: “Tiếng trống, chuông, chiêng… cùng vang dậy khắp Hà Nội, báo hiệu ngày hội Tổng tuyển cử đầu tiên của dân tộc Việt Nam bắt đầu. Tại miền Nam, người dân cũng nô nức tham gia ngày bầu cử theo lời ca giục giã vang khắn mọi nơi: Hãy ra bầu cử, người công dân nước Nam. Hãy ra bầu cử, Nghị viện của mình…”. “Bây giờ có chết cũng hả dạ, vì đã bỏ được lá phiếu góp phần xây dựng nền móng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho con cháu mình”[15].
Rõ ràng, niềm tin, hy vọng của người dân đã theo từng tiếng trống, hòa cùng lời ca, gửi gắm trong từng lá phiếu của họ. Đó thực sự là cuộc Tổng tuyển cử của lòng dân, thể hiện niềm tin tuyệt đối của người dân vào tương lai tươi sáng của dân tộc, vào tiền đồ của chính quyền cách mạng. Kết quả bầu cử đã chứng minh việc đặt niềm tin đó là hoàn toàn sáng suốt và đúng đắn. Đó mới thực sự là tư tưởng trọng dân, tin dân. Bài học này đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị.
Thứ hai, bảo đảm quyền tự do bầu cử với những quy định linh động và sáng tạo
Trên thực tế, Tổng tuyển cử đã thể hiện và bảo đảm thực hiện các nguyên tắc bầu cử tiến bộ, tạo mọi điều kiện để nhân dân thực hiện quyền của mình, tham gia bầu cử đông đủ, thể hiện quyền lợi và nghĩa vụ của công dân trong việc xây dựng chính quyền nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “… Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ, Chính phủ đó thực sự là Chính phủ của toàn dân…”. Chính vì thế, các quy định của pháp luật về bầu cử đều thể hiện rõ nguyên tắc bình đằng, dân chủ, công khai, phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Những ai là công dân Việt Nam không vi phạm những điều pháp luật quy định thì đều được bình đẳng, được tạo điều kiện ứng cử làm đại biểu Quốc hội và được tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội. Những nguyên tắc về bầu cử, ứng cử từ đầu của công dân như: không phân biệt trai gái, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo … đã được khẳng định trong Hiến pháp, được thể chế hóa trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội sau này. Đây là thành tựu của quá trình đấu tranh cách mạng không ngừng, quá trình giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; là sức mạnh đoàn kết toàn dân, phát huy dân chủ, trí tuệ của nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, tuyên truyền, vận động bầu cử được tiến hành rộng rãi, dân chủ và thực chất
Để cuộc Tổng tuyển cử thực sự dân chủ, công tác tuyên truyền, vận động bầu cử là hết sức quan trọng nhằm giúp cho người dân hiểu về mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của Tổng tuyển cử, về các quy định của pháp luật bầu cử để động viên nhân dân đi bầu cử đầy đủ và sớm nhất.
Trên thực tế, các cuộc vận động và tuyên truyền về cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 đã diễn ra sôi nổi, phong phú trên khắp cả nước. Các cơ quan thông tin đại chúng, nhất là các báo như Cứu Quốc, Sự Thật giữ vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, cổ vũ quần chúng, đấu tranh phê phán sự xuyên tạc của các lực lượng chính trị đối lập. Đặc biệt, tờ Nhật báo Quốc hội xuất bản ở Hà Nội, là tờ báo chỉ ra trong thời kỳ Tổng tuyển cử nhằm mục đích nêu rõ giá trị của cuộc Tổng tuyển cử, giới thiệu những người ứng cử ở các tỉnh, thành phố cũng được công bố công khai để nhân dân tự do tìm hiểu, lựa chọn khi bầu. Từ nhiều tháng trước ngày bầu cử, các cán bộ Việt Minh ở cấp cơ sở còn trực tiếp tuyên truyền, phổ biến đến nhân dân. Cách tuyên truyền vận động bầu cử cũng độc đáo, sáng tạo. Có nơi cán bộ phải cùng ở với dân cả khi làm đồng, cả khi xay lúa, lấy bèo, dạy chữ…, cả ngày cũng như đêm, giải thích đi, giải thích lại một cách cụ thể và dễ hiểu cho đồng bào về Quốc hội, về tầm quan trọng của Tổng tuyển cử, về quyền bầu cử, ứng cử của công dân. Ngoài ra, các ứng cử viên cũng có các hình thức tiếp xúc với cử tri và vận động bầu cử khác nhau. Ở một số địa phương, nhân dân còn nghĩ ra những bài ca, bài vè, câu đối để giới thiệu người ứng cử cho cử tri dễ nhớ tên các ứng cử viên cần bầu. Ngày 5-1-1946, trong buổi lễ ra mắt ứng cử viên tổ chức tại Việt Nam học xá, hướng về cử tri, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Làm việc nước bây giờ là hy sinh, là phấn đấu, quên lợi riêng mà nghĩ lợi chung. Những ai muốn làm quan cách mạng thì nhất định không nên bầu. Ngày mai không ai ép, không ai mua, toàn dân sẽ thực hiện cái quyền dân chủ ấy”[16].
Thứ tư, bài học về quyền ứng cử
Ngày 30-12-1945, trong bài viết trên Báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: “Hễ là người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó”[17].
Giải thích lý do tại sao lại ra ứng cử, Bác sĩ Tôn Thất Tùng cho biết: “Tôi lấy làm lạ cho thái độ lãnh đạm của một số anh em trí thức đối với cuộc Tổng tuyển cử này. Họ làm như việc của nước mình là việc của nước nào ấy. Tôi từ trước giờ vẫn ở yên trong địa hạt chuyên môn của tôi, không tham dự gì vào đời sống chính trị, nhưng bây giờ tôi thấy phải có bổn phận ra ứng cử” để “có thể giúp ích đôi chút bằng công việc chuyên môn của tôi”[18]. Điều này giải thích tại sao trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, để bầu được 333 đại biểu đã có hàng nghìn người hăng hái tham gia ứng cử và ở mỗi đơn vị bầu cử số ứng cử viên nhiều hơn gấp nhiều lần số đại biểu được bầu.
Từ thực tiễn về quyền ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử 80 năm về trước, bài học rút ra đối với công tác bầu cử Quốc hội hiện nay là phải hết sức tôn trọng quyền tự do ứng cử và nơi tranh cử của ứng viên. Đây là tư tưởng thể hiện mở rộng dân chủ trong bầu cử, ngoài việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, tập thể đề cử, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội thì pháp luật cũng bảo đảm cho công dân quyền được tự ứng cử đại biểu Quốc hội nếu thấy đủ điều kiện tiêu chuẩn theo quy định.
*
Tám thập kỷ trôi qua, nhưng những kinh nghiệm được đúc kết từ cuộc bầu cử Quốc hội ngày 6-1-1946 vẫn vẹn nguyên giá trị, cần được chắt lọc, vận dụng vào công tác bầu cử của Quốc hội các khóa trong giai đoạn mới, đặc biệt là cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI nhiệm kỳ 2026-2031 sắp tới, để Quốc hội mãi xứng đáng là cơ quan đại biểu dân cử cao nhất, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong không khí chào mừng kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên (6/1/1946-6/1/2026), chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, kiên định con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; với sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan trong toàn hệ thống chính trị; sự ủng hộ và giám sát của nhân dân; sự hợp tác và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, Quốc hội Việt Nam trong kỷ nguyên mới sẽ phát huy những kinh nghiệm và truyền thống vẻ vang của 80 năm qua, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương thức hoạt động, đạt được nhiều kết quả quan trọng, đóng góp to lớn hơn nữa vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, đưa Việt Nam vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong đợi lúc sinh thời!
Chú thích:
[1] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.587.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.27.
[3]Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.7.
[4] Lê Mậu Hãn, Nguyễn Văn Thư (1994), Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.31.
[5] Trần Dân Tiên (1975), Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr.128.
[6] Báo Cứu quốc, ngày 10-11-1945.
[7] Hồ Chí Minh (1945), Tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bản dịch báo La republique, số 4, ngày 28/10/1945, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, tr.2.
[8]. Chủ tịch kiêm Ngoại giao Hồ Chí Minh; 2. Phó Chủ tịch Nguyễn Hải Thần; 3. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp; 4. Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động Trần Huy Liệu; 5. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chu Văn Tấn; 6.Bộ trưởng Bộ Thanh niên Dương Đức Hiền; 7- Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tề Nguyễn Tường Long; 8-Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội Nguyễn Văn Tố; 9- Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Trọng Khánh; 10. Bộ trưởng Bộ Y tế Trương Đình Tri; 11. Bộ trưởng Bộ Giao thông Công chính Đào Trọng Kim; 12. Bộ trưởng Bộ Lao động Lê Văn Hiến; 13. Bộ trưởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng; 14. Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hoè; 15; Bộ trưởng Bộ Canh nông Cù Huy Cận; 16; Bộ trưởng không Bộ Nguyễn Văn Xuân.
[9] Báo Cứu quốc, ngày 10-11-1945.
[10]Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.166.
[11] Báo Quốc hội, ngày 6-1-1946.
[12] Lê Mậu Hãn, Nguyễn Văn Thư (1994), Lịch sử Quốc hội Việt Nam 1946-1960, Sđd, tr.48-49.
[13] Với 333 đại biểu đuợc bầu chính thức (trong đó Bắc Bộ có 152 đại biểu, Trung Bộ có 108 đại biểu, Nam Bộ có 73 đại biểu) và 70 đại biểu không thông qua bầu cử, Quốc hội khoá I gồm 403 đại biểu.
[14] Hồ Chí Minh (1945), Trả lời phỏng vấn: Xung quanh cuộc Tổng tuyển cử, Bản dịch báo La republique, số 1, ngày 23/12/1945, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, tr.1.
[15] Lâm Quang Thự, Người con đất Quảng, Nxb Đà Nẵng, 2005, tr.180.
[16] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Tập 4, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.168.
[17] Hồ Chí Minh toàn tập (2011), Tập 4, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.168.
[18] Lâm Quang Thự, Người con đất Quảng, Nxb Đà Nẵng, 2005, tr.182.
Avatar - Mẫu tranh cổ động tuyên truyền bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031 (được ban hành kèm theo Quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 12/11/2025). Nguồn: https://thuongphuc.hanoi.gov.vn/van-hoa-xa-hoi/nhung-hinh-anh-tuyen-truyen-ve-bau-cu-2841260115215921983.htm.